Sự kiện Đức Mẹ dâng mình trong Đền Thánh vào tuổi ấu thơ không được đề cập trong Thánh Kinh qui điển. Vì thế, các Bài Đọc được chọn hôm nay nhằm gián tiếp hướng chỉ ý nghĩa của việc dâng mình ấy.
Đoạn sách Dacaria (2,14-17) nói về việc Thiên Chúa ngự đến trong thánh điện để ở giữa các nữ tử Sion. “Hỡi con gái Sion, hãy vui sướng reo hò, vì này Ta đang đến ở lại giữa ngươi”. Có thể nói, chính Thiên Chúa ‘dâng mình’ cho dân Ngài trước, bằng sự hiện diện này – và đây là tiền đề cho mọi sự dâng mình của những người muốn hoàn toàn thuộc về Chúa, như Đức Maria.
Được ở với Chúa, thuộc về Chúa, đó là niềm vui tột đỉnh mà chính Chúa kêu gọi ‘con gái Sion’ cảm nghiệm. Niềm vui này khai mở trong tâm hồn Maria, vọng lại lời của bà Anna, thân mẫu Samuel: “Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, Đấng Cứu độ tôi” – và chính Maria sẽ cảm nghiệm cách sung mãn khi trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa nhập thể: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa; thần trí tôi hớn hở reo mừng, vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi; phận nữ tỳ hèn mọn, Ngài đoái thương nhìn tới; từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc…”
Niềm vui của Maria gắn với đặc ân làm Mẹ (Con)Thiên Chúa. Nhưng ta sẽ lầm nếu chỉ nhìn thấy và hiểu thiên chức làm mẹ này trong phương diện huyết nhục mà thôi. Bởi chính Chúa Giêsu sẽ mặc khải thiên chức làm mẹ của Đức Maria trước hết cốt ở việc ‘thi hành ý muốn của Cha trên trời’: “Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi”! Thế mà, việc đặt mình hoàn toàn thuộc về thánh ý Thiên Chúa đã được Maria diễn tả ngay từ rất sớm trong đời, qua sự kiện dâng mình vào Đền Thánh. Đức Maria được Thiên Chúa chuẩn bị – và Mẹ hưởng ứng kế hoạch của Thiên Chúa một cách ăn ý và phù hợp biết bao!
Mừng lễ Đức Maria Dâng Mình, tất cả chúng ta được nhắc nhớ sự thánh hiến của mình trong Phép Rửa, cách riêng các tu sĩ/ linh mục thì sự thánh hiến ấy còn được ‘chuyên biệt hoá’ trong lời khấn và trong chức thánh. Chúng ta đã dâng mình để thuộc về thánh ý Thiên Chúa, và qua đó trở thành những mẹ, những anh chị em của Chúa Giêsu.
Liệu sự ‘dâng mình’ hay ‘được thánh hiến’ ấy của chúng ta có đang còn hiệu lực? Nghi thức thì làm một lần, nhưng hiệu lực thì giả thiết phải không ngừng làm mới lại. Xin Mẹ giúp chúng ta thuộc về Chúa mỗi ngày!
Lm. Lê Công Đức
Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vừa công bố ‘Sứ điệp đặc biệt về Nhập cư’, dựa trên các nguyên tắc Kitô giáo, nhất là sự tôn trọng phẩm giá của mọi con người. “Phẩm giá con người và an ninh quốc gia không mâu thuẫn; có thể đạt được cả hai, nếu những người thiện chí cùng hợp tác”. Sứ điệp này kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ sửa đổi Luật Di trú… Chúng ta thấy đây là một trường hợp tiêu biểu trong đó các Kitô hữu chất vấn và phản đối chính sách của nhà cầm quyền (cụ thể là những chủ trương của Tổng thống Trump về di dân), khi chính sách ấy chống lại con người và (do đó) chống lại đường lối của Thiên Chúa.
Ông Matthathia, trong trình thuật của sách 1Macabe hôm nay, cũng từ chối tuân theo lệnh truyền của vua Antioco như vậy. Bị dồn ép đến bức xúc, Matthathia đã dùng đến bạo lực!… Chúng ta, những môn đệ Chúa Giêsu, không ủng hộ bạo lực như thế. Nhưng Giáo hội vẫn mạnh mẽ và thẳng thắn trong thái độ và trong tiếng nói chống lại cường quyền đang chà đạp phẩm giá con người…
Nhiều người là Kitô hữu nhưng suy nghĩ đơn giản kiểu “về chuyện này, chuyện này… thì làm sao theo đường lối Phúc Âm được, làm sao theo lời Chúa dạy được!” Ồ, vậy hoá ra Phúc Âm lỗi thời rồi sao? Thực ra, như có câu nói, ‘hễ muốn thì sẽ có cách, còn hễ không muốn thì sẽ có… lý do’. Giáo hội vẫn đề xuất những đường hướng quản lý xã hội cách lành mạnh, nhưng không giành sân của các chính phủ, và chính các chính phủ có bổn phận tìm ra các phương cách phù hợp cho các vấn đề.
Nhưng chúng ta cũng không ngây thơ để nghĩ rằng việc tâm phục khẩu phục trước đường lối Chúa là điều dễ. Bởi người ngôn sứ và tiếng nói ngôn sứ luôn phải lội ngược dòng! Chúa Giêsu đến để rao giảng bằng lời nói và hành động, bằng sự hiện diện và bằng cả con người… và Người đã khóc khi nhìn thấy Giêrusalem: “Chớ chi hôm nay ngươi hiểu biết sứ điệp mang hoà bình lại cho ngươi! Nhưng giờ đây, sứ điệp ấy bị che khuất khỏi mắt ngươi… Quân thù sẽ tàn phá ngươi bình địa… vì ngươi đã không nhận biết giờ ngươi được viếng thăm”.
Đức giáo hoàng Lê ô đang nói với tất cả chúng ta rằng “cần phải quay lại và đọc lại Phúc Âm, kẻo chúng ta có nguy cơ thay thế Phúc Âm bằng sự khôn ngoan của thế gian này” (Dilexi Te, 15).
Lm. Lê Công Đức
Gà mái sẽ xoè cánh che chở đàn gà con, nó sẽ ngẩng cổ lên nghênh chiến trước đối thủ khi lâm nguy khốn. Thế nhưng trong trình thuật của sách 2Macabe hôm nay, ta lại thấy một người mẹ khích lệ bảy đứa con của mình sẵn sàng để cho người ta giết hại, hết đứa con này đến đứa con khác. Thật ngược đời và khó hiểu biết bao! Nhưng ta sẽ hiểu ‘triết lý thâm sâu’ hay sự minh trí của người mẹ này khi nghe chính bà diễn giải:
“Mẹ không biết các con đã thành hình trong lòng mẹ ra sao, vì không phải mẹ ban cho các con tinh thần, linh hồn và sự sống, cũng không phải mẹ sắp đặt các chi thể của mỗi con, nhưng là Ðấng Sáng Tạo vũ trụ, Người đã dựng nên loài người, và sáng tạo mọi sự với lòng nhân hậu. Người sẽ trả lại cho các con tinh thần và sự sống, vì giờ đây các con coi rẻ mạng sống các con để bảo vệ luật pháp của Người”.
Mấu chốt là: các con không thuộc về mẹ; đúng hơn, các con thuộc về Đấng Sáng Tạo; chọn lựa tốt nhất là các con hãy sống và chết cho Ngài! Đó là cách chúng ta sinh hoa trái từ vốn liếng là ơn hiện hữu/ ơn sự sống mà Thiên Chúa ban cho. Triết lý này sẽ hoàn toàn am hợp với tuyên bố sau này của Chúa Giêsu: Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình thì sẽ giữ được nó! Nghĩa là, tưởng được nhưng thua, và tưởng thua nhưng được.
Thiên Chúa chúng ta là một Thiên Chúa làm việc có mục đích. Ngài nhắm ĐƯỢC, và Ngài không chấp nhận thua. Ánh sáng này giúp hiểu dụ ngôn Chúa Giêsu kể về các nén bạc. Ông chủ nói với người đầy tớ nhận một nén và đã không sinh lời: “Sao ngươi không gửi bạc ta ở ngân hàng, để rồi khi ta trở về, ta có thể lấy cả vốn lẫn lời?”…
Vấn đề của anh đầy tớ này là LƯỜI BIẾNG và thiếu tinh thần hợp tác, qua đó anh coi thường ông chủ. Nén bạc của anh bị tước mất và trao cho người có mười nén. Tại sao? Vì ai sinh lợi sẽ được giao thêm vốn, ai không sinh lợi sẽ bị tước đi cả số vốn đang có!
Bạn thấy đó, sự lười biếng và việc thiếu tinh thần hợp tác với Chúa thì tai hại biết bao. Đôi khi vì lười biếng mà người ta thiếu hợp tác; cũng có khi chính vì thiếu tinh thần hợp tác mà người ta lười biếng. Đàng nào cũng tai hại.
Xin Chúa giúp ta biết trân trọng lời mời gọi hợp tác của Chúa, và sốt sắng làm việc để sinh hoa trái từ các ân huệ Chúa ban, trong đó chính sự sống/ sự hiện hữu của chúng ta là ân ban lớn nhất và nền tảng nhất.
Lm. Lê Công Đức
Chiều ngày 17/11/2025, tiếp các cộng tác viên ngoại giao tại các Cơ quan Ngoại giao của Tòa Thánh ở các nước trên thế giới, Đức Thánh Cha mời gọi họ trở thành “những linh mục yêu mến Chúa Kitô và tận tụy xây dựng Thân Thể Người”, phản ánh sự gần gũi của Đức Thánh Cha với các Giáo hội địa phương và gắn bó với Giáo hội nơi mình xuất thân cũng như nơi được sai đến phục vụ.
Mang sự hiện diện của Giáo hội và của Đức Thánh Cha đến mọi nơi
Ngỏ lời với các linh mục phục vụ tại các cơ sở Ngoại giao của Tòa Thánh, trước hết Đức Thánh Cha cảm ơn họ đã đáp lại tiếng Chúa mời gọi theo Người để mang Lời Cứu độ của Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Ngài nói rằng lời mời gọi này vang vọng một cách thật đặc biệt đối với những người được chọn để thực thi thừa tác vụ linh mục tại các cơ sở Đại diện của Tòa Thánh tại các nước: “một hồng ân và cam kết hiện diện khắp mọi nơi cho toàn thể Giáo hội, và đặc biệt, cho sự quan tâm mục vụ của Đức Giáo Hoàng, Đấng chủ trì Giáo hội trong đức ái”.
Chứng tá của những linh mục yêu mến Chúa Kitô và tận tụy xây dựng Thân Thể Người
Đức Thánh Cha nhận định rằng công việc phục vụ của các cộng tác viên tại các cơ sở Ngoại giao của Tòa Thánh đòi hỏi vừa gắn kết với Thiên Chúa vừa cởi mở với tha thân, đòi hỏi sự học chuyên môn và sự hy sinh can đảm. Sứ vụ này được phát triển trong đức tin và vâng phục Giáo hội. Ngài nhấn mạnh rằng tại nơi họ phục vụ, “chứng tá đầu tiên mà anh chị em phải thể hiện là chứng tá của những linh mục yêu mến Chúa Kitô và tận tụy xây dựng Thân Thể Người”. Ngài mời gọi họ “hãy phản ánh tình cảm và sự gần gũi của Đức Giáo Hoàng đối với mỗi người, duy trì một sự đồng cảm với Giáo Hội”.
Cầu nguyện
Ngài cũng khẳng định rằng Giáo hội luôn hỗ trợ các linh mục ở các Tòa Sứ Thần bằng lời cầu nguyện. Do đó, ngài mời gọi họ “củng cố căn tính linh mục của anh em bằng cách kín múc sức mạnh từ các Bí tích, từ sự hiệp thông huynh đệ, và từ sự nhu thuận liên lỉ với Chúa Thánh Thần”.
Xây dựng tương quan với mọi người
Bên cạnh đó, các cộng sự viên trong ngành ngoại giao Tòa Thánh được mời gọi xây dựng các tương quan với mọi người, chống lại cám dỗ tự cô lập. “Hãy tiếp tục gắn kết với thân thể Giáo Hội và lịch sử các dân tộc: cả nơi anh em xuất thân lẫn nơi anh em được sai đến”. Ngài kêu gọi họ tiếp tục nuôi dưỡng tương quan với Giáo hội từ đó mình xuất thân, bởi vì “khi cảm giác thuộc về này mất đi, sự chán nản sẽ xuất hiện: khi đó chúng ta sẽ giống như những cái cây không có rễ. Tuy nhiên, nếu nó tiếp tục nhận được máu, nó thậm chí có thể được cấy ghép ở nơi khác và do đó sinh ra những trái mới”.
Điều không thể thiếu trong đời sống của các linh mục hoạt động tại các cơ sở Ngoại giao của Tòa Thánh đó là gặp gỡ Chúa trong Nhà nguyện, nơi họ cùng với mọi người ngợi khen và cầu xin Chúa. Chỉ nhờ thế họ mới có thể là “muối cho đất và ánh sáng cho thế gian” (x. Mt 5,13-14).
Có thể nói: sống là lựa chọn. Chúng ta thực hiện vô số lựa chọn mỗi ngày. Có những lựa chọn tốt, và có những lựa chọn tệ. Và hẳn nhiên, trong đời sống, có những lựa chọn căn bản hơn, làm nền cho các lựa chọn khác. Rốt cục, nói chung, có hai hướng lựa chọn chính yếu, đó là hoặc lựa chọn sống có ý nghĩa, hoặc lựa chọn sống xoàng xĩnh cho qua kiếp người.
Cụ ông Êleazaro trong sách 2 Macabe hôm nay đã bị cám dỗ, nhưng đã không lựa chọn sống xoàng xĩnh. Ngược lại, cụ đã chọn đường công chính, và khi “từ giã cuộc đời, đã để lại không những cho các thanh niên mà còn cho toàn dân một tấm gương anh dũng và một lưu niệm đạo đức”…
Chọn sống ý nghĩa là chọn Thiên Chúa và chọn đường lối Ngài. Người ta có thể gặp gian truân, có thể mất mát nhiều thứ, kể cả mạng sống mình, nhưng có được chính Chúa, như những lời của Thánh vịnh 3: “Lạy Chúa, Chúa là thuẫn hộ thân con, là vinh quang con, Chúa cho con ngẩng đầu lên… Tôi lên tiếng kêu cầu Chúa, và Chúa đã nghe tôi từ núi thánh của Ngài”.
Chúa Giêsu lựa chọn đến với những người tội lỗi và đón nhận họ, như câu chuyện về ông Da-kêu của bài Tin Mừng hôm nay. Sự lựa chọn này trái ngược hẳn với quan điểm và cách lựa chọn của những người Phariseu. Và Chúa Giêsu dõng dạc tuyên bố: “Hôm nay nhà này được ơn cứu độ, bởi người này cũng là con cái Abraham. Vì chưng, Con Người đến tìm kiếm và cứu chữa điều gì đã hư mất”.
Chính Da-kêu cũng lựa chọn cộng tác với sự kiếm tìm và cứu chữa của Chúa Giêsu. Ông lựa chọn đổi đời, để quá khứ lại sau lưng, và bước tới với một con người mới, tinh thần mới, thái độ mới, lối sống mới… Cũng vậy, Chúa chọn kiếm tìm và cứu chữa chúng ta, vậy chúng ta có lựa chọn cộng tác với Chúa hay không?
Lm. Lê Công Đức
Vua suy đồi, dẫn đến cả dân cũng suy đồi… đến mức không chỉ bỏ Chúa, chạy theo thần ngoại, mà còn nhẫn tâm bách hại những người còn trung thành tôn thờ và phụng sự Thiên Chúa. Đó là câu chuyện buồn trong đoạn sách 1Macabe hôm nay.
Thánh vịnh 118 (Đáp ca) vọng lại lời thống thiết kêu cứu của những người bị bách hại trong cơn túng quẫn. “Lạy Chúa, xin bảo toàn cho con sống, và con sẽ tuân giữ lời nghiêm huấn của Ngài… Con nổi cơn uất hận vì những người tội lỗi, bọn chúng bỏ rơi luật pháp của Ngài… Thừng chão bọn ác nhân đã trói buộc con, nhưng con chẳng lãng quên luật pháp của Chúa”…
Anh mù bên vệ đường ở Giêrico cũng là một người khốn quẫn và bị ‘bách hại’ khi anh lên tiếng kêu van Chúa Giêsu, nhưng những kẻ đi đầu trong đoàn người ấy đã quát nạt, bắt anh câm miệng. Anh bất khuất, vẫn tiếp tục lên tiếng. Và Chúa Giêsu đã nghe tiếng anh kêu cầu, đã ân cần đáp lại ước nguyện của anh…
Ta thấy rõ ràng chính tấm lòng trắc ẩn và quyền năng của Chúa Giêsu đã cứu chữa anh mù đáng thương này. Nhưng Chúa Giêsu thì xác nhận rằng lòng tin của anh đã cứu chữa anh. Chúa kêu gọi, khích lệ lòng tin của chúng ta. Chúa đồng hoá lòng tin nơi chúng ta với quyền lực của chính Chúa. Đây là mãnh lực của lời cầu nguyện, mà theo diễn tả của thánh Gregorio Cả thì “nhờ lời cầu nguyện, người ta xứng đáng nhận được điều mà Thiên Chúa toàn năng đã quyết định ban cho họ từ đời đời!” Nghĩa là, hiệu quả của lời cầu nguyện được gán cho cả hai: việc con người cầu xin, và sự quan phòng của Chúa.
Nhưng sự kiện được sáng mắt không phải là tất cả hiệu quả được thấy nơi anh mù. Từ tình trạng bị loại trừ, bị áp bức và gạt ra rìa, anh đã đĩnh đạc hội nhập vào đoàn người đang bước đi ấy, với Chúa Giêsu dẫn đầu. Có thể nhận ra đoàn người này là hình ảnh của Hội Thánh, và lòng tin của anh mù cùng với tình thương cứu độ của Chúa Giêsu đã có sức giúp hoán cải Hội Thánh. Từ thái độ khép kín, phân biệt, Hội Thánh đã biết mở ra và đón nhận hơn.
Lời Chúa hôm nay, như thế, dạy chúng ta TIN và TRÔNG CẬY vào tình yêu có sức cứu độ của Chúa. Đừng bao giờ ngại ngùng kêu lên, cũng đừng bao giờ làm ai nhụt chí từ bỏ việc kêu lên: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con”! Việc của chúng ta là tin, còn việc của Chúa là chạnh lòng thương và nhận lời.
Lm. Lê Công Đức
Chúa nhật 33 Thường niên, chúng ta đã tới sát gần sự kết thúc một chu kỳ Năm Phụng vụ. Âm hưởng cánh chung được nghe rất rõ. Thế giới đầy những khóc cười này, lịch sử đầy chìm nổi này sẽ đi về đâu? Nó sẽ không quay vòng như một quan niệm về ‘luân hồi’ nào đó. Nó cũng không đi mãi trên một quĩ đạo đường thẳng vô cùng vô tận. Thế giới và lịch sử này đã có điểm bắt đầu, và sẽ đi tới điểm kết thúc, trong đó số phận của mỗi người sẽ được ấn định. Như lời sách Malakhi:
“Ðây sẽ đến ngày bừng cháy lên như lò lửa: tất cả những kẻ kiêu căng và những người làm tội ác sẽ như rơm rạ… Phần các ngươi là những kẻ kính sợ thánh danh Ta, các ngươi sẽ được Mặt Trời công chính mọc lên cho, mang theo sự cứu chữa trong cánh Người” (x. Ml 4,1-2a).
Sự kết thúc và ấn định số phận chung cuộc ấy được mô tả là ‘Ngày của Chúa’. Đó là ngày mà “Chúa ngự tới cai quản chư dân trong đường chính trực” (x. Tv 97, Đáp ca). Ta nhận ra ngay ở đây: Ngày của Chúa, hay cánh chung, không nên làm ta lo lắng thất đảm, mà nên khơi lên trong ta niềm lạc quan và hy vọng. Bởi đó là ngày Chúa ngự đến kia mà!
Chúa Giêsu dùng hình ảnh Đền thờ Giêrusalem để xác nhận thực tại cánh chung. Giêrusalem huy hoàng tráng lệ, là niềm tự hào của dân Israel, là biểu tượng của sự vững bền… nhưng “Những gì anh em nhìn ngắm đây, sau này sẽ đến ngày không còn hòn đá nào nằm trên hòn đá nào mà chẳng bị tàn phá”… Nghĩa là, những gì xem ra vững chãi nhất trên cõi đời này cũng sẽ không còn. Tất cả sẽ qua đi, cho sự xuất hiện của một thế giới mới, với trời mới đất mới…
Trước cú chuyển tiếp từ lịch sử đến vĩnh cửu ấy, những biến động đầy đảo lộn sẽ xảy ra. Sẽ khốn khổ đấy. Tuy nhiên, Chúa Giêsu trấn an chúng ta: “Anh em sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy; nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng sẽ chẳng hư mất” (x. Lc 21,5-19).
Chính cảm thức về cánh chung cũng cần phải đúng đắn và tránh những cách nghĩ lệch lạc, chẳng hạn cách nghĩ của những người bạc nhược, thụ động, lười biếng, không làm gì cả, coi cuộc sống hiện tại này chỉ như một ‘phòng chờ’… Thánh Phaolô đã nhắc nhở: “Có một số người trong anh em sống nhàn cư, chẳng làm việc gì hết!” Thật đáng buồn biết bao. Vì thế, Phaolô đã làm gương, và mạnh dạn kêu gọi các tín hữu noi gương mình:
“Anh em biết phải noi gương chúng tôi thế nào, bởi vì chúng tôi đã không lười biếng lúc ở giữa anh em, cũng không ăn bám của ai, nhưng chúng tôi làm lụng khó nhọc vất vả đêm ngày, để không trở nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải chúng tôi không có quyền, nhưng là để nêu gương cho anh em, để anh em bắt chước chúng tôi” (x. 2Tx 3,7-12).
Có những người mải loay hoay lo cho cuộc sống bên kia mà không biết làm gì với cuộc sống bên này! Chúng ta đừng quên, câu hỏi thứ nhất không phải là ‘có cuộc sống bên kia không?’, mà là: Có cuộc sống bên này không? …
Lm. Lê Công Đức
Ông thẩm phán là một quan chức, nên ông rất mạnh. Bà goá là ‘con sâu cái kiến’, thuộc nhóm người yếu đuối nhất trong xã hội. Bà goá đến năn nỉ ông quan toà, xin minh oan cho mình, vì bị người ta bắt nạt, dồn ép chuyện gì đó. Ông quan toà thờ ơ… Ông vốn chẳng sợ Chúa cũng chẳng nể ai… Nhưng cuối cùng ông đã xử cho bà goá chỉ vì muốn tránh sự quấy rầy của bà.
Chúa Giêsu kể dụ ngôn này để thuyết phục chúng ta về hiệu quả của việc cầu nguyện, trong đó Thiên Chúa sẽ nghe lời những ai kêu cầu Ngài không phải vì để tránh bị quấy rầy, mà vì Ngài thật sự thương xót và quan tâm. Vấn đề là liệu ta có kiên trì cầu nguyện hay không. Đừng hỏi tại sao Chúa nhiều khi muốn ta phải kiên trì, chứ không luôn luôn đáp ứng chúng ta ngay lập tức. Đây là khoa sư phạm của Chúa, không hoàn toàn xa lạ hay vượt quá sự nhận hiểu của chúng ta đâu…
Nhưng không ai kiên trì nhẫn nại cầu xin nếu họ không tin. Vì không tin thì cũng chẳng tin tưởng/ hy vọng! Ta hiểu tại sao sau khi kêu gọi kiên trì cầu nguyện, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?”
Chúa lo lắng, ưu tư thật đó. Như chính chúng ta có thể hiểu khi nhìn lại lòng tin mong manh của mình. Lòng tin vào Chúa Giêsu và vào đường lối của Người, Tin Mừng cứu độ của Người, sẽ quyết định tất cả. Chúng ta có thực sự thấy quen thuộc (feeling at home) và chấp nhận dễ dàng Chúa Giêsu và các giá trị Phúc âm mà Chúa rao giảng hay không?
Cũng nên ghi nhận, kết quả của sự kiên trì nơi bà goá trong câu chuyện không duy chỉ là việc minh oan mà bà nhận được từ ông quan toà. Kết quả của sự kiên trì ấy còn là kinh nghiệm hoán cải nơi ông quan toà kia nữa. Thử nghĩ đi, ông chưa bao giờ kính sợ Chúa cũng chưa bao giờ kính nể người đời, ông chưa bao giờ có một hành động vị tha đúng nghĩa – nhưng giờ đây, dù với động cơ nhuốm màu vị kỷ, ông đã thử làm một điều tốt vì người khác. Chắc chắn đây là một kinh nghiệm thú vị cho ông. Và biết đâu đó, kinh nghiệm này sẽ là khởi đầu của một cuộc chuyển hoá tích cực.
Xin Chúa giúp chúng ta biết tin vào Chúa, biết hy vọng, biết kiên trì cầu nguyện – vì sự kiên trì không chỉ đem lại ơn ích cho chúng ta, mà đó còn là sứ mạng giúp biến đổi người khác nữa!
Lm. Lê Công Đức
“Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
thanh không kể ra sự nghiệp tay Người.
Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác,
đêm này truyền tụng cho đêm kia.
Ðây không phải lời cũng không phải tiếng,
mà âm thanh chúng không thể lọt tai.
Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất,
và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu”.
Những lời này của Thánh vịnh 18 là một phiên bản trao cùng một thông điệp như bản văn sách Khôn ngoan hôm nay. Thông điệp đó là: sự hiện hữu cũng như hành động sáng tạo và quan phòng của Thiên Chúa được chứng thực bởi công trình tạo dựng của Ngài xung quanh ta mọi nơi mọi lúc. Chỉ cần ta biết nhìn, biết nghe.
Nhưng rất thường, mắt ta bị cản nên không thấy, và tai ta bị cản nên không nghe – như trong câu nói ‘thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn, thực nhi bất tri kỳ vị’. Trước hết, hãy tháo gỡ và vứt đi những vật cản, chúng ta sẽ thấy, sẽ nghe, và sẽ cảm thụ được hương vị… Nhớ kinh nghiệm của ông Gia cóp: “Có Thiên Chúa ở nơi này mà tôi không biết”! – và kinh nghiệm của thánh Tê rê sa về Thiên Chúa đi qua giữa xoong chảo trong nhà bếp!…
Có khả năng thấy, nghe, hiểu được hành động của Thiên Chúa, người ta sẽ không bị bất ngờ khi sự thật về Thiên Chúa được vén mở ra… nhất là ở hồi chung cuộc lịch sử. Ngược lại, những ai cứ lơ ngơ, vô minh, vô cảm trước những ‘dấu hiệu’ của Thiên Chúa, thì sẽ bị bất ngờ, bị sốc khi các sự việc xảy đến ngoài hình dung của họ.
Chúa Giêsu cảnh báo về tình trạng bị bất ngờ như thế, khi Người nói “Thiên hạ cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng, mãi cho tới ngày Noe vào tầu…” Đặc biệt, Người lưu ý chúng ta về số phận rất khác nhau của những người xem ra rất gần nhau: “Hai người trên một giường, thì một người bị đem đi, và người kia sẽ được để lại. Hai phụ nữ xay cùng một cối, thì một người sẽ bị đem đi, còn người kia sẽ được để lại. Hai người ở ngoài đồng, thì một người bị đem đi, và người kia được để lại”!
Tất cả là tuỳ ở chúng ta, trong hiện tại này, nhìn mọi sự mà có thấy hay không, nghe mà có hiểu hay không. Xin Chúa giúp ta tháo gỡ những vật cản, để có khả năng nhìn thấy và nghe thấy các dấu hiệu của Chúa trong đời.
Lm. Lê Công Đức