“Anh em hãy giữ mình, kẻo lòng anh em ra nặng nề bởi chè chén say sưa và lo lắng việc đời, mà ngày đó thình lình đến với anh em như chiếc lưới chụp xuống mọi người sống trên mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người!”
Những lời trên đây của Chúa Giêsu được chọn để kết thúc Năm Phụng vụ. Thật đơn sơ, dễ hiểu. Vấn đề chính yếu không phải là ‘điều gì xảy ra’, mà là ‘chúng ta phải làm gì?’
Chúa Giêsu dạy hai ‘đừng làm’ (DON’T) và hai ‘hãy làm’ (DO):
-“Đừng chè chén say sưa”: Trước hết, theo nghĩa mặt chữ, đó là đừng sa đà ngập ngụa trong ăn nhậu. Thứ đến, cần mở rộng lời cảnh giác này để bao gồm cả những thú vui vật chất phàm tục khác…
-“Đừng lo lắng sự đời”: Ơ, cũng phải lo những ‘sự đời’ chứ! Nhưng ở đây Chúa muốn nhắc ta đừng để mình bị nuốt chửng trong những sự đời, mà phải biết quan tâm trước hết đến đời sống siêu nhiên, đến mối tương quan mật thiết với Chúa.
-“Hãy tỉnh thức luôn”: Nghĩa là luôn sẵn sàng! Chúng ta có thể bị đánh úp bất ngờ bởi thuỷ điện xả lũ mà không báo trước hay báo trước quá gần. Trong cuộc sống bên ngoài, chúng ta còn kinh nghiệm nhiều tình trạng bất ngờ và bị động khác. Nhưng trong nội tâm, trong đời sống thiêng liêng, Chúa nhắc chúng ta phải luôn tỉnh thức, sẵn sàng, không lúng túng và bị động…
-“Hãy cầu nguyện luôn”: Sự tỉnh thức và sẵn sàng như nói trên hầu như là không thể, nếu chúng ta chỉ dùng năng lực ẩm ương chập chờn của mình. Nó phải được ‘sạc’ không ngừng từ nguồn mạch của nó là Thiên Chúa. Quá trình ‘sạc’ này chính là cầu nguyện, mọi dạng thức cầu nguyện…
Và kết quả là chúng ta sẽ đứng vững trước mặt Con Người, trong ‘ngày của Con Người’!
Lm. Lê Công Đức
Tiếp tục âm hưởng cánh chung của những ngày cuối cùng trong chu kỳ Năm Phụng vụ, chúng ta nghe về thị kiến của Đanien. Trong thị kiến này, Đanien trông thấy bốn con vật dị hợm, hung dữ… rồi trông thấy vị Bô lão trên ngai… các con mãnh thú bị giết hay bị tước hết quyền lực… cuối cùng là Con Người đến trong mây trời, tiến đến trước vị Bô lão, được trao quyền năng, vinh dự và vương quốc đến muôn đời!
Thật không đơn giản việc giải thích các tiểu tiết của thị kiến nói trên. Nhưng rõ ràng hàm nghĩa của nó là cho thấy sự khải thắng chung cuộc của Thiên Chúa trên mọi quyền lực sự dữ. Thiên Chúa tối thượng, vinh quang, toàn năng, nắm giữ quyền lực trên tất cả – và Ngài trao vinh quang, quyền lực ấy vào tay Con Người là Chúa Giêsu Kitô…
Chúa Giêsu, đến lượt Người, đã xác nhận sự xuất hiện và hoàn thành của Nước Trời chung cuộc. Người cũng lưu ý chúng ta về các dấu hiệu báo trước. “Anh em hãy xem cây vả và mọi thứ cây cối. Khi chúng đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết rằng mùa hè đã gần đến. Cũng thế, khi anh em xem thấy những sự đó xảy ra, thì hãy biết rằng nước Thiên Chúa đã gần đến”.
Như vậy, lời Chúa đoan chắc với chúng ta: (1) thế giới và dòng lịch sử này sẽ kết thúc; (2) mọi quyền lực sự dữ sẽ bị đánh bại; (3) Thiên Chúa sẽ tỏ lộ vinh quang, danh dự và uy quyền của Ngài nơi Chúa Kitô, Đấng nắm quyền xét xử tất cả.
Sống cảm thức cánh chung, vì thế, là sống với ý thức rằng dòng đời này sẽ trôi qua, lịch sử sẽ đi đến kết điểm của nó. Nhiều khi chúng ta sống như thể mình sẽ không bao giờ chết, đó là một sai lầm, một tình trạng bị ru ngủ và hoàn toàn thiếu thực tế.
Sống cảm thức cánh chung, đó là trung kiên bám lấy Chúa và đường lối Chúa. Các lực của sự dữ rất mạnh mẽ và không ngừng lôi kéo chúng ta lạc xa đường lối Chúa. Nhiều khi để trung thành, ta phải chấp nhận lội ngược dòng đám đông xung quanh mình.
Và nói tóm lại, sống cảm thức cánh chung là luôn giữ tương quan mật thiết với Chúa Giêsu Kitô. Người là Chúa, là Thầy, là Bạn của chúng ta. Người là Đường, Sự Thật, Sự Sống của ta. Người là Đấng Xét Xử đồng thời là Đấng Cứu Độ làm cho ta an tâm tin tưởng chứ không hề sợ hãi!
Lm. lê Công Đức
Nhân dịp kỉ niệm 1700 năm Công đồng Nixêa, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã công bố Tông thư mang tên “In Unitate Fidei” (Trong sự Hiệp nhất của Đức tin). Văn kiện này không chỉ nhìn lại lịch sử mà còn là lời mời gọi khẩn thiết gửi đến tất cả các Kitô hữu, thúc đẩy họ “cùng nhau bước đi để đạt được sự hiệp nhất và hòa giải” nhằm trở thành “dấu chỉ hòa bình” trong thế giới đang bị chia cắt.
Trong tông thư được công bố ngày lễ Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ 23/11 vừa qua,Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Kinh Tin Kính Nixêa-Constantinope là “di sản chung giữa các Kitô hữu” qua nhiều thế kỷ và là “trọng tâm của đức tin Kitô giáo”, tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là “Con Một Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha”. Công đồng Nixêa có một “giá trị đại kết cao cả nhất”, cung cấp cơ sở vững chắc cho phong trào đại kết ngày nay.
Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu thực hiện một “cuộc xét mình” sâu sắc dựa trên Kinh Tin Kính: Thiên Chúa có thực sự là Đấng Toàn Năng duy nhất trong cuộc đời tôi, hay tôi đang tôn thờ những “thần tượng” khác? Tôi có đang “gìn giữ và vun trồng” tạo vật một cách công bằng hay đang “khai thác” và “hủy hoại” nó?
Mặc dù sự hiệp nhất hữu hình trọn vẹn vẫn chưa đạt được, Đức Thánh Cha Lêô XIV ca ngợi những thành tựu của đối thoại đại kết trong việc giúp các Giáo hội đón nhận nhau như những “anh chị em trong Chúa Giêsu Kitô”. Ngài hình dung về một “nền đại kết hướng tới tương lai” – không phải là sự quay về quá khứ hay chấp nhận hiện trạng, mà là một hành trình “hòa giải trên con đường đối thoại” và “trao đổi các ân huệ thiêng liêng”.
Để đạt được mục tiêu này, cần phải gác lại “những tranh cãi thần học đã mất đi lý do tồn tại của chúng” và tập trung vào “sự lắng nghe và đón nhận lẫn nhau”. Đây là một thách thức thiêng liêng, đòi hỏi “sự hoán cải từ tất cả mọi người”, và cần một “nền đại kết thiêng liêng của lời cầu nguyện”.
Đức Thánh Cha nhắc nhở rằng, trong thế giới hiện tại “bị chia rẽ và xâu xé bởi nhiều xung đột”, các môn đệ Chúa Kitô phải là “dấu chỉ hòa bình và công cụ hòa giải”. Con đường của Chúa Giêsu là con đường của sự hạ mình và dâng hiến cho tha nhân, đặc biệt là “những người nghèo và thấp kém nhất”.
Đức Thánh Cha kết luận: “Nếu Thiên Chúa yêu thương chúng ta hết lòng, thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau”. Chỉ khi làm chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa qua hành động cụ thể đối với những người đau khổ, chúng ta mới có thể giúp những người chưa tin vào Thiên Chúa “trải nghiệm lòng thương xót của Người thông qua chúng ta”.
Kịch tính nhất trong câu chuyện và kinh nghiệm của Đanien, đó là chàng bị ném vào hang sử tử mà sau một đêm vẫn không hề hấn gì. Vua Đariô mừng rỡ khi biết điều đó, bởi trong lòng mình, nhà vua không muốn hại Đanien. Cuối cùng, chính những kẻ gây áp lực để hại Đanien đã bị ném vào hang sư tử và lập tức bị xé xác. Còn vua Đariô thì lên lời chúc tụng Thiên Chúa của Đanien và truyền cho mọi địa phương trong nước phải tôn thờ Ngài.
Câu chuyện trên là một lời chứng hùng hồn về sức mạnh vô song của Thiên Chúa, về hành động Thiên Chúa xoay ngược tình hình để bảo vệ vị ngôn sứ của Ngài. Chính sức mạnh của Thiên Chúa sẽ khải thắng và chinh phục mọi sức mạnh của con người, chứ không ngược lại. Bởi đó, ta nghe vang lên bài thánh ca nổi tiếng:
“Hãy ngợi khen và tán tạ Chúa tới muôn đời… Chúc tụng Chúa đi, mưa đổ với sương rơi. Chúc tụng Chúa đi, nước đông và băng giá… nước đọng với tuyết sa… ngày quang và đêm tối… sáng sủa với thâm u… mây trôi và chớp giật. Hỡi địa cầu, hãy ngợi khen tán tạ Chúa tới muôn đời”…
Chính những lời tuyên bố thuộc thể văn khải huyền của Chúa Giêsu dưới ngòi bút của thánh sử Luca cũng nói về ‘thời của dân ngoại’ đầy xao động và sự kết thúc của ‘thời’ đó, để cuối cùng mở ra sự cứu độ chung cuộc. Chúa nói về “những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao; dưới đất, các dân tộc buồn sầu lo lắng, vì biển gầm sóng vỗ… các tầng trời sẽ rung chuyển”… Rồi “Con Người sẽ đến trên đám mây”… Và Chúa truyền cho chúng ta là các môn đệ Người: “Anh em hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi anh em đã gần đến”.
Quả thật, Chúa Giêsu là niềm Hy vọng không làm chúng ta thất vọng. Tin Người, yêu mến Người, và trông cậy vào Người, chúng ta sẽ có thể đứng dậy và ngẩng đầu lên ở hồi kết cục, vì chính Người là Ơn Cứu Rỗi của chúng ta!
Lm. Lê Công Đức
Vua Baltassar, người kế vị Nabucodonosor, xúc phạm đến các bình thánh, chén thánh cướp được từ Đền thờ Giêrusalem. Ông nhận một điềm lạ, được Đanien giải nghĩa là những ám chỉ triều đại của ông sẽ sụp đổ, tiêu vong. Câu chuyện đầy tính biểu tượng này cho thấy sự thánh thiêng và quyền lực của Thiên Chúa, Đấng luôn kiểm soát mọi tình hình, dù cho quyền lực của con người mạnh mẽ đến đâu…
Bài thánh ca trong sách Đanien tiếp tục tán dương vinh quang và quyền lực ấy của Thiên Chúa: “Chúc tụng Chúa đi, mặt trời cùng với mặt trăng. Chúc tụng Chúa đi, trên trời cao, muôn tinh tú. Chúc tụng Chúa đi, mưa móc với sương sa. Chúc tụng Chúa đi, muôn ngàn ngọn gió. Chúc tụng Chúa đi, lửa đỏ với than hồng. Chúc tụng Chúa đi, rét mướt và lạnh lẽo… Hãy ngợi khen và tán tạ Chúa tới muôn đời”…
Nghĩa là, không chỉ tránh báng bổ, xúc phạm Thiên Chúa, mà việc đúng đắn phải làm là chúc tụng Ngài. Muôn vật muôn loài trong vũ trụ được kêu gọi chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, thì huống chi loài người chúng ta!
Là những người tin, bổn phận chúc tụng ngợi khen Chúa còn phải được thi hành ngay cả trong nghịch cảnh, nhất là trong hoàn cảnh bị bách hại bởi những thế lực chống lại Thiên Chúa và đạo lý của Ngài. Sự kiên trung trong những nghịch cảnh như thế trở thành lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa tuyệt vời nhất. Chúa Giêsu khích lệ và trấn an:
“Người ta sẽ tra tay bắt bớ, ức hiếp và nộp anh em đến các hội đường và ngục tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy: anh em sẽ có dịp làm chứng… Anh em sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng sẽ chẳng hư mất. Anh em cứ bền đỗ, anh em cũng sẽ giữ được linh hồn anh em”.
Có những cám dỗ nào thường lôi kéo ta báng bổ Thiên Chúa? Bằng cách nào ta chống lại những cám dỗ ấy? Và bằng cách nào chúng ta kiên trung chúc tụng ngợi khen Chúa trong những nghịch cảnh mà mình phải đối mặt?
Nguồn. Vatican News
Những ngày cuối cùng của Năm Phụng vụ, lời Chúa nhắc chúng ta về viễn ảnh của sự kết thúc tất cả. Đó là sự biến động nơi các nước và giữa các nước; dân này chống dân kia, nước này chống nước nọ (theo Bài đọc trích sách Đanien và theo Bài Tin Mừng Luca).
Không chỉ trong cảnh vực của đời, mà các biểu tượng của đạo cũng sụp đổ – như Đền thờ Giêrusalem huy hoàng tráng lệ cũng sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào… Nhưng tất cả kết thúc là để khai sinh! “Thiên Chúa khiến một vương quốc dấy lên và tàn phá hết các vương quốc, nó sẽ đứng vững muôn đời”. Đây chính là Nước Thiên Chúa đi đến hoàn thành!
Và như vậy, cuối cùng cuộc chiến được phân định thắng thua cách dứt khoát, Vương quyền của Chúa được khải thị và được nhìn nhận. Như âm vang từ bài thánh ca cũng trích từ sách Đanien: “Hãy ngợi khen và tán tạ Chúa tới muôn đời… Hãy chúc tụng Chúa đi, mọi công cuộc của Chúa. Chúc tụng Chúa đi, các thiên thần của Chúa. Chúc tụng Chúa đi, muôn cõi trời cao. Chúc tụng Chúa đi, ngàn nước trên cõi cao xanh. Chúc tụng Chúa đi, muôn đạo thiên binh của Chúa”…
Chúng ta muốn thuộc về bên chiến thắng, dĩ nhiên. Và sự ‘thuộc về’ này phải được thực hiện ngay từ bây giờ, chứ đợi đến lúc ngã ngũ sẽ không kịp. Thuộc về Nước và Triều đại Thiên Chúa, đó là đảm nhận và sống các giá trị của Nước ấy – và đó là góp phần xây dựng Nước ấy, tức Phúc âm hoá, làm cho Bài giảng Trên Núi và Các Mối Phúc trở thành thật sự là nguồn cảm hứng của ngày càng nhiều người hơn.
Chúng ta vẫn cầu nguyện kêu xin Chúa như thế hằng ngày trong Kinh Lạy Cha: nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời! Kinh Lạy Cha, vì thế, là một lời cầu nguyện đặc sắc đậm chất sứ mạng và cánh chung. Xin Chúa giúp chúng ta cầu xin cho ‘Nước Cha trị đến’ với đầy ý thức và tâm tình.
Lm. Lê Công Đức
Nghĩ đến các vị thánh Tuẫn Đạo, ta dễ vấp một băn khoăn vô cùng: Vì sao mà Chúa Giêsu tốt lành đến thế, Tin Mừng của Người tốt lành và khôn ngoan đến thế, nhưng lại luôn bị người ta mọi nơi và mọi thời chống báng, triệt phá quyết liệt đến độ giết hại vô số con người vô tội?
Câu trả lời là vì mù quáng. Nhưng vì sao người ta mù quáng đến thế, đến mức trở thành hiện tượng dường như là tự nhiên? Chúng ta không có câu trả lời thấu triệt ngoài ý niệm về ‘mầu nhiệm sự dữ’. Điều rõ ràng là cách nhìn cái chết của các vị Tuẫn Đạo cũng hoàn toàn khác biệt giữa người tin và người không tin. Đối với chúng ta, những người tin Chúa, thì “linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài” (x. Kn 3,1-9).
Niềm tin ấy là điểm tựa, là sức mạnh giúp các vị tuẫn đạo đảm nhận những gian nan khốn khó, và cả cái chết. Người ta giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn các ngài. Các ngài liều mạng sống và giữ được sự sống của mình – như lời Thánh vịnh 125: “Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan”…
Chính Chúa Giêsu báo trước rất rõ về số phận của các môn đệ: Môn đệ không hơn Thầy… “Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ”. Ngay Các Mối Phúc, cương lĩnh của đời sống đạo, cũng được tổng hợp lại nơi mối phúc về tình trạng “vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa”… Và câu hỏi tại sao của chúng ta trên kia được Chúa Giêsu gián tiếp trả lời rằng “lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”!
Điều quan trọng hơn tất cả, đó là chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đã bị bách hại và bị giết chết thê thảm trên Thập giá. Chúa cứu chúng ta, cứu nhân loại bằng cách đó. Và Thập giá trở thành con đường, thành sự khôn ngoan tột đỉnh của các môn đệ Chúa Giêsu. “Trong khi người Dothái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hylạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá”! (x. 1Cr 1,17-25).
Mừng kính Các Thánh Tuẫn Đạo Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa và tri ân các ngài. Xin các ngài nâng đỡ chúng ta sống và làm chứng cho đức tin của mình, vốn được sinh ra từ máu của các ngài.
Lm. Lê Công Đức
MỪNG CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ – Lm Lê Công Đức
Các kỳ lão Israel đến tìm Ðavít và xức dầu phong Ðavít làm vua Israel. Câu chuyện này trong sách 2Samuel (5,1-3) mở ra viễn ảnh Vương quyền vĩnh cửu của Đấng Mêsia là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể. Như lời thiên sứ sẽ nói với Đức Maria trong biến cố truyền tin: “Thiên Chúa sẽ trao cho Người ngai vàng Đavit, tổ tiên Người, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”…
Thánh vịnh 121 (Đáp ca) cũng nói về viễn tượng đó, với Giêrusalem là biểu tượng của trung tâm qui tụ dân Chúa: Ngai toà của Đavit đặt ở Giêrusalem, và dân hân hoan vui mừng tiến về đó. Không chỉ dân Israel, mà toàn thể chư dân!
Nhưng viễn tượng nói trên vẫn còn mù mờ mức nào đó, bởi trong hình dung của đa số người ta, Vương quyền của Đấng Mêsia vẫn được hiểu đơn giản theo kinh nghiệm nhân loại, nghĩa là chinh phục, khải thắng và vinh quang như con đường của các vua chúa trần gian thiết lập triều đại của mình. Trong khi đó, con đường đi đến Vương quyền của Chúa Giêsu thì khác hẳn, thậm chí hoàn toàn ngược lại. Người dành cả ‘thanh xuân’, ồ không, dành cả đời để rao giảng về Vương quốc, về Triều đại của Thiên Chúa. Và Người dứt khoát thiết lập Vương quốc, Triều đại ấy bằng cách chịu đóng đinh trên Thập giá!
“Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: ‘Người Này Là Vua Dân Do Thái’” (x. Lc 23,35-43). Người ta chế nhạo, sỉ nhục Người bằng tấm bảng ấy, nhưng không ngờ rằng tấm bảng ấy ẩn chứa sự thật vô cùng thiết yếu. Họ không ngờ, vì như Philatô, họ không hiểu tuyên bố của Chúa Giêsu: “Nước của tôi không thuộc về thế gian này!”…
Biết bao người đã không ngờ… Chính chúng ta ngày nay nhiều khi cũng vẫn còn không ngờ rằng con đường làm Vua của Chúa Giêsu là như thế! Nhưng đó là sự thật. Chúng ta được cứu rỗi bằng chính con đường Thập giá, bằng vị Vua chịu đóng đinh và treo lên, chứ không bằng con đường nào khác hay nhờ ai khác. Thánh Phaolô nhắc chúng ta:
“Chúa đã cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực u tối, đem chúng ta về nước Con yêu dấu của Chúa, trong Người chúng ta được ơn cứu rỗi nhờ máu Người, và được ơn tha tội… Người là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài” (x. Cl 1,12-20).
Mừng Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta ý thức lại: Nước Thiên Chúa và Triều đại Thiên Chúa là tất cả sứ mạng của chúng ta, của Giáo hội. Vâng, mục đích của hiện hữu chúng ta, hiện hữu của Giáo hội, là Sứ Mạng. Và mục đích của Sứ Mạng là Nước và Triều đại Thiên Chúa.
“Lạy Chúa Giêsu Kitô, là Vua cai trị mọi loài; xin Chúa làm Vua cai trị lòng con suốt đời”.
CHÚA KITÔ NGỰ TRỊ LÒNG CHÚNG TA – Anê Bích Trúc
Hôm nay, toàn thể Giáo Hội long trọng mừng lễ Chúa Ki-tô Vua vũ trụ. Mỗi Kitô hữu được mời gọi sống tâm tình tôn vinh Thiên Chúa – Vua các Vua, Chúa các Chúa và hiệp thông với nhau để dâng lời cảm tạ vì một năm phụng vụ đã chính thức khép lại. Đây cũng là lúc một cánh cửa mới mở ra cho hành trình đức tin của mỗi người. Chúng ta tự hỏi chính mình mình: “tôi đã chăm sóc đời sống thiêng liêng của tôi như thế nào? Tôi đã cộng tác với ơn Chúa ra sao? Đặc biệt, trong cõi lòng tôi lúc này, có một vị vua nào đang ngự trị không? Nếu có, vị vua ấy thật sự là ai?
Theo trình thuật thánh Luca, trước khi trút hơi thở cuối cùng, chính trên thập giá – nơi tột đỉnh của đau thương, Chúa Giê-su đã thi hành vương quyền của mình khi Người hứa ban Nước Thiên Đàng cho một trong hai tên gian phi. Trước đó, Người đã bị kết án bởi tay con người, vác thập giá lên đồi Calvê, chịu đóng đinh và chịu mọi lời sỉ nhục. Những gì Người trải qua không chỉ là nỗi đau thân xác mà còn là những mũi nhọn đâm vào trái tim: những lời nhục mạ cay độc, những cái nhìn lạnh lùng, những trái tim đã mất dần khả năng yêu thương vì quá quen với bất công và bạo lực.
Dân chúng và các thủ lãnh đứng đó, nhưng đứng thật xa với Chúa. Họ chỉ nhìn thấy nơi Ngài là một kẻ đáng khinh thường, đáng chết. Đã có lúc họ nghĩ Ngài là vị ngôn sứ quyền năng, là Đấng chữa lành bệnh và trừ quỷ, nhưng vì trái tim họ chai cứng, khép kín nên Chúa cũng không thể chạm đến trái tim họ và họ không được biến đổi.
Đứng gần với Chúa hơn là lính tráng – những con người đã quá quen với việc hành hạ và hành quyết. Sự tàn nhẫn lặp đi lặp lại khiến trái tim họ đóng băng trước nỗi khổ của người khác. Với họ, Chúa Giê-su cũng chỉ là một tù nhân cần phải loại trừ. Tiền bạc, thú vui của quyền lực và sự ác độc đã bào mòn nhân tính của họ, đến nỗi họ chỉ sống cho mình.
Gần hơn nữa là hai tên gian phi bị đóng đinh cùng Người. Giữa cuộc đời nhiều tội lỗi và sai trái, vẫn có một tia sáng nhỏ bé mà Chúa đã gieo vào lòng họ. Một người bị nỗi tuyệt vọng đè nặng đến mức không còn nhìn lên được nữa; anh chỉ thấy nỗi khổ của mình. Nhưng người kia, trong khiêm tốn và chút lương thiện còn sót lại, đã nhận ra vẻ đẹp và quyền năng của Vua vũ trụ giữa khuôn mặt đẫm máu và bầm dập của Ngài. Anh mở lòng, và chính sự mở lòng ấy đưa anh đến với ơn cứu độ.
Nhìn vào cuộc sống ngày hôm nay, có nhiều điểm sáng nhưng không thiếu những bóng đêm tội lỗi. Chúng ta cũng dễ bị cuốn vào thờ ơ, oán ghét, sự độc địa trong lời nói, sự vô tình làm tổn thương nhau. Bất công, cám dỗ, giả dối, ganh ghét… vẫn lan tràn trong thời đại. Giữa thế giới ấy, Chúa Giêsu, Vua Tình Yêu đã đến và đã dùng cái chết trên thập giá để chứng minh tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Chỉ có trái tim biết yêu thương mới có thể làm cho cuộc sống này bình an và đáng sống hơn. Một trái tim yêu thương có thể biến đổi một con người; nhiều trái tim biết yêu sẽ làm thế giới trở thành thiên đàng của hạnh phúc, nơi không còn chiến tranh, bạo lực hay những lời làm tổn thương nhau.
Lạy Chúa! chỉ có Chúa mới biết rõ con và biết mọi điều đang xảy đến với con. Cuộc đời con không thiếu những nỗi đau và bất an. Nhưng hơn ai hết, con biết Chúa đã đến và chết cho con chỉ để nói với con rằng Chúa yêu con, muốn ở lại trong trái tim con và muốn con được sống hạnh phúc. Xin Chúa đến và ở lại trong nhà con, làm chủ trái tim con mãi mãi. Xin ban cho con ơn can đảm để loại bỏ mọi những gì làm con xa cách Chúa để con chỉ trung thành và yêu mến Chúa mà thôi. Amen.
Vua Antiôcô rất hùng mạnh và đã từng bách hại người Do thái, cướp bóc Giêrusalem rất dã man… như các trình thuật trong sách Macabê cho ta biết. Thế nhưng thế lực này cũng đến hồi suy tàn, nhà vua kết thúc cuộc đời trong tủi nhục ray rứt…
Sự tham lam, độc ác và kiêu hãnh của các quyền lực phi nhân thường tự chứng tỏ sức mạnh của mình và lấn lướt, đè bẹp tiếng nói của sự thiện, sự công chính. Nhưng ngay trong lịch sử này, trên mặt đất này, sự thiện, sự thật cũng luôn cho thấy là bất khuất – qua đó Thiên Chúa trao thông điệp rằng Ngài không bao giờ mất quyền kiểm soát trên tất cả. Đây là hàm ý của những lời trong Thánh vịnh 9:
“Lạy Chúa, con mừng rỡ vì ơn Ngài cứu độ… Vì quân thù của con đã tháo lui, chúng chạy trốn và vong mạng trước thiên nhan Chúa. Chúa trách phạt chư dân, diệt vong đứa ác, bôi nhoà tên tuổi chúng tới muôn đời. Chúng rơi chìm xuống hố mà chúng đã đào, chân mắc vào cạm bẫy mà chúng đã che. Vì kẻ cơ bần không bị đời đời quên bỏ, hy vọng người đau khổ không mãi mãi tiêu tan”…
Chúng ta thấy tính bất khuất của sự thiện trên sự dữ, của sự sống trên sự chết… không chỉ trong nhân loại dọc theo lịch sử, mà trong cả thế giới tự nhiên xung quanh mình. Không phải vô lý khi người ta nói về thiên nhiên bị lạm dụng, bị xâm hại và nói về ‘thiên nhiên nổi giận’ – như trong những nạn lũ lụt khủng khiếp thời gian qua. Thiên nhiên là lời yêu thương, nhưng nhiều lúc mang lời cảnh cáo của Thiên Chúa, nhắc cho con người về tai hoạ của ‘gậy ông đập lưng ông’, rằng đừng điên rồ chọn con đường chết, con đường tự huỷ diệt mình.
Người Sa đốc không tin có sự sống lại và sự sống đời sau, nghĩa là mặc định chấp nhận ‘chết là hết’. Chúa Giêsu trả lời họ: “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa”… Điều này có nghĩa rằng Chúa muốn ta đi ‘từ sống đến sống’, nếu chẳng vậy thì sẽ ‘từ chết tới chết’ (đời này và đời sau).
Chúng ta phải chọn lựa, trong tư cách cá nhân và cộng đồng!
Lm. Lê Công Đức