Một vì sao sáng đêm đông,
Ba nhà đạo sĩ ngước trông điềm trời.
Từ ngôi sao lạ sáng ngời,
Dẫn đường đưa lối đến nơi Hang Lừa.
Đường đi đắp đổi thiệt thua,
Xa xôi hiểm trở lại vừa mù khơi.
Chợt ngôi sao lạ dừng rồi,
Ba nhà đạo sĩ bồi hồi tâm can.
Các ông bối rối bàng hoàng,
Vội mang lễ vật tiến dâng bái chào.
Tâm lòng mừng rỡ dạt dào,
Tỏ lòng cung kính nâng cao lòng thành.
Hài Nhi giáng thế mỏng manh,
Là vua cao cả muôn dân mong chờ.
Dưới hình hài nhỏ bé thơ,
Tình yêu vĩ đại bến bờ Hiển Linh.
Ba nhà đạo sĩ cúi mình,
Cung nghênh Cứu Chúa Giáng Sinh làm người.
Tin vào điềm lạ trên trời,
Từ ngôi sao sáng gọi mời dấn thân.
Người ơi! Mau hãy chung phần,
Noi gương đạo sĩ còn ngần ngại chi.
Niềm tin vào Chúa từ bi,
Mong làm sao sáng bước đi dẫn đường.
Một đời gieo rắc tình thương,
Là đường chân lý kiên cường rạng soi.
Anna Nguyễn Thị Đào
Những cánh mai vàng khoe sắc cùng với chút se lạnh của tiết trời thu đông báo hiệu mùa xuân Quý Mão sắp tới. Hòa chung những cảm xúc đầy yêu thương về mùa xuân của quê hương, Quý Sơ cùng các cô trong trường Mầm Non Bình Minh tổ chức Hội Chợ Xuân cho các bé với chủ đề “Xuân Yêu Thương” để tạo không khí vui tươi cho các bé nhân dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, đồng thời tạo cho bé được giao lưu, trải nghiệm, đặc biệt giúp các bé hiểu hơn về Nét văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc: TẾT CỔ TRUYỀN.








Hội chợ được tổ chức thành các gian hàng tết với các sản phẩm như: đồ ăn, thức uống, … cùng với trò chơi dân gian do các cô đảm nhiệm. Tất cả có 11 gian hàng được thiết kế dân gian với mành tre, câu đối. Các bé được trải nghiệm các hoạt động đón năm mới như chơi các trò chơi dân gian, và rất nhiều những hoạt động thú vị trong hương sắc của mùa xuân tràn về.


Nhìn khuôn mặt vui vẻ, ánh mắt ngập tràn niềm vui, mỗi bạn nhỏ không giấu được sự háo hức chờ đón tham gia các hoạt động tại trường. Cả sân trường ngập tràn trong sắc xuân với những gian hàng rực rỡ màu sắc.


Hội chợ Xuân đã tạo ra một sân chơi bổ ích khi các bé được cùng các cô trải nghiệm mua sắm tại các gian hàng. Các bé rất thích thú và hạnh phúc khi được lựa chọn những món ăn yêu thích và hạnh phúc hơn khi các bé được cùng nhau vui chơi và ăn uống.









Hội chợ “Xuân Yêu Thương” của Trường Mầm non Bình Minh đã khép lại trong sự háo hức phấn khởi nhưng cũng đầy nuối tiếc của các cô và các bé. Chắc chắn trong lòng mỗi bé lại thầm ấp ủ, hồi hộp chờ đợi đến phiên chợ của năm sau. Sự mong ngóng của các bé chính là phần thưởng đầy ý nghĩa đối với quý Sơ và các cô trong trường bởi vì các cô hy vọng mang lại niềm vui và những điều tốt đẹp nhất đến với các bé.


Ban TT MTG Tân Lập
Cuộc đời là hành trình tìm kiếm không ngừng, nẻo đường đó vạn dặm. Mỗi người phải lên đường khám phá và tìm cho mình một lối đi để gặp gỡ Chúa. Trong trang Tin Mừng hôm nay, ba nhà đạo sĩ đã lên đường khám phá ngôi sao lạ và họ đã tìm kiếm được Chúa – Đấng mà lòng họ khao khát.
Thánh sử Maccô đã giới thiệu cho chúng ta hình ảnh Vua Hêrôđê và ba nhà chiêm tinh. Họ cùng chung một mục đích là đi tìm Hài Nhi Giêsu – Đấng Cứu tinh của nhân loại nhưng thái độ tìm kiếm Chúa của họ hoàn toàn khác nhau. Đấng Cứu Thế sinh ra cách Giêrusalem không xa nhưng Hêrôđê chẳng hay biết gì. Đến khi sự việc xảy ra thì ông mới vội triệu tập các nhà đạo sĩ đến để dò hỏi. Vua Hêrôđê tìm kiếm Chúa không phải vì Chúa mà vì quyền lợi của ông, không phải để thờ lạy nhưng là để giết chết vì ông sợ ngôi Vua của ông sẽ mất.
Ngược lại, ba nhà đạo sĩ không ngồi chờ cách thụ động nhưng thấy ánh sao lạ họ quyết tâm lên đường tìm kiếm Chúa. Họ chấp nhận gian khổ, khó khăn để thực hiện được ước mơ của mình. Nhờ thế, họ đã gặp được Chúa. Còn Vua Hêrôđê, ông ngại lên đường, ngại tìm kiếm, thiếu lòng khao khát và sự thiện nên mãi mãi ông không gặp được Chúa. Đó là điều bất hạnh cho ông. Như vậy, nếu không có khao khát thì không bao giờ có hy vọng; không đi tìm thì cũng không bao giờ thấy.
Cuộc hành trình của ba nhà đạo sĩ gặp rất nhiều hiểm trở. Thử thách lớn nhất đối với họ là ngôi sao dẫn đường biến mất, họ phải đi trong bóng đêm nhưng họ không nản chí, thất vọng, họ tin tưởng và tiếp tục lên đường. Lòng kiên trì đã giúp họ đạt đến đích là gặp được chính Chúa. Như vậy, trong hành trình tìm kiếm Chúa đòi hỏi sự trung kiên. Ai bỏ cuộc giữa đường sẽ không gặp được Chúa. Ai can đảm đi đến cùng mới gặp được Ngài.
“Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại”. Ba nhà đạo sĩ đã gặp được Chúa nằm trong máng cỏ, họ liền sấp mình thờ lạy Ngài. Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi ở Bêlem đã thay đổi cuộc đời họ. Họ không còn sợ Vua Hêrôđê nữa nhưng theo sự hướng dẫn của Thần Khí để đi lối khác về xứ của mình. Sự biến đổi này không có gì khó hiểu, bởi ai đã gặp được Chúa dầu chỉ một lần, họ sẽ không còn sống trong con người cũ nữa nhưng sẽ sống trong thần khí và ân sủng của Chúa. Họ sẽ sẽ cảm nhận được những bất ngờ mà Chúa dành cho cuộc đời họ.
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người hãy lên đường như ba nhà đạo sĩ Phương Đông để tìm kiếm Chúa. Như ngôi sao lạ dẫn đường cho ba nhà đạo sĩ tìm gặp Chúa thế nào, ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta nhạy bén nhận ra dấu chỉ để tìm và gặp gỡ Chúa qua Bí tích Thánh Thể, Lời Chúa…để chúng ta cũng được cảm nghiệm và chạm vào Giêsu để cuộc đời chúng ta được biến đổi.
Maria Thảo An
Thứ Ba 03/01/2023, Phòng Báo chí Toà Thánh thông cáo chi tiết về Thánh lễ an táng Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI. Vì không phải là Giáo hoàng đương nhiệm qua đời, nên phụng vụ Thánh lễ có một số thay đổi. Dự kiến sẽ có hơn 120 hồng y, hơn 400 giám mục và 4.000 linh mục đồng tế, trước sự hiện hiện của hơn 60 ngàn tín hữu.
Ngọc Yến – Vatican News
Vào tối thứ Tư, sau 7 giờ tối khi việc kính viếng Đức cố Giáo hoàng chấm dứt, di hài của ngài sẽ được đặt trong quan tài bằng gỗ bách. Theo truyền thống, cùng được đặt trong quan tài là dây Pallium – biểu tượng cai quản- các đồng tiền cắc và mề đay được phát hành trong thời của Đức cố Giáo hoàng, và chứng thư, văn bản mô tả ngắn gọn triều Giáo hoàng của ngài, được đặt trong một ống kim loại.
Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Toà Thánh cho biết vì không phải là Giáo hoàng đương nhiệm qua đời, nên Thánh lễ an táng Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức và các nghi thức sau đó có một số thay đổi. Như trong Thánh lễ, lời nguyện dành cho Giáo phận Roma và các Giáo hội nghi lễ Đông phương không có.
Sau Thánh lễ an táng sẽ có nghi thức tiễn biệt. Sau đó, linh cửu của Đức cố Giáo hoàng sẽ được đưa xuống hầm mộ các Giáo hoàng bên dưới đền thờ thánh Phêrô. Tại đây quan tài bằng gỗ bách được đặt trong hòm bằng kẽm, rồi lại được đặt trong một quan tài bằng gỗ và được chôn cất.
Đức cố Giáo hoàng Biển Đức XVI sẽ được yên nghỉ trong phần mộ của thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II trước khi được phong chân phước ngày 01/5/2011.
Sẽ có hơn 120 hồng y, hơn 400 giám mục và 4.000 linh mục đồng tế. Đã có hơn 600 nhà báo được Vatican công nhận. Chính quyền Roma dự kiến sẽ có 60 ngàn tín hữu tham dự Thánh lễ.
Hiện diện tại Thánh lễ an táng, ngoài phái đoàn của Ý với người dẫn đầu là Tổng thống Sergio Mattarella, và của Đức với người dẫn đầu là Tổng thống Frank Walter Steinmeier, cho tới nay Vatican đã xác nhận thêm một số nguyên thủ quốc gia khác sẽ đến: Tổng thống Andrzej Duda của Ba Lan, Nữ hoàng Sofia của Tây Ban Nha, Vua Filippo Hoàng hậu Mathilde của Bỉ, Tổng thống Marcelo Rebelo de Sousa của Bồ Đào Nha, Tổng thống Katalin Novak của Hungary.
Bộ Truyền thông của Toà Thánh với sự hỗ trợ của Hội Hiệp sĩ Colombo đang nỗ lực để đảm bảo việc truyền hình trên toàn thế giới Thánh lễ cầu nguyện cho Đức cố Giáo hoàng.
Trong hai ngày thứ Hai và thứ Ba, đã có khoảng 135. 000 người đến kính viếng Đức Biển Đức XVI tại đền thờ thánh Phêrô.
Trong những giờ này, nhiều thông điệp bày tỏ sự gần gũi và cảm xúc về sự ra đi của Đức nguyên Giáo hoàng đang được gửi về. Ký ức của các Hội đồng Giám mục và của nhiều nhà lãnh đạo chính trị quen biết ngài thật xúc động.
Vatican News
Trong thời kỳ chia rẽ và xung đột, thế giới đoàn kết với nhau trong việc tưởng nhớ Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI, người đã qua đời sáng nay tại Đan viện Mater Ecclesiae ở Vatican. Tin tức nằm ở trang bìa của các tờ báo và hãng thông tấn quốc tế chính, những cơ quan đề cao tầm cỡ trí tuệ của ngài và thời điểm ngài từ chức Giáo hoàng.
Sự gần gũi của các Giáo hội
Các Hội đồng Giám mục lớn trên thế giới đang gửi thông điệp chia buồn. Chủ tịch Hội đồng Giám mục Châu Âu, Đức cha Gintaras Grušas, nhắc lại “giáo huấn của Châu Âu mà Đức Biển Đức XVI đã phát triển trong triều đại Giáo hoàng của ngài, khi nhấn mạnh tầm quan trọng của cội nguồn Kitô giáo của Châu Âu và nêu bật sự cần thiết trở lại với Chúa Kitô và với việc loan báo Tin Mừng để xây dựng một nền văn minh tình thương”.
Trong một thông điệp, các Giám mục Đức viết: “Đức Biển Đức XVI có một mối quan hệ đặc biệt với Giáo hội Công giáo ở Đức: ngài sinh ra ở đây, học thần học ở đây, ông hoạt động tích cực với tư cách là một linh mục và trong thời gian ngài là Tổng Giám mục của Munich và Freising, ngài cũng là một thành viên của Hội đồng Giám mục Công giáo Đức.”
Đức Tổng Giám mục Timothy Costelloe, chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Úc, đặc biệt nhắc lại tình cảm của những người trẻ từ khắp nơi trên thế giới đến tham dự Đại hội Giới trẻ Thế giới tại Sydney năm 2008. “Triều đại Giáo hoàng của ngài sẽ được nhớ đến như triều đại phong phú về giáo huân, trong số các thông điệp về tình yêu, hy vọng và chân lý, cũng như loạt sách về Chúa Giêsu thành Nazareth, và về những cải cách quan trọng trong các lĩnh vực như phụng vụ và xử lý lạm dụng tình dục trẻ em.”
“Toàn bộ cuộc đời của Joseph Ratzinger, sau này là Đức Biển Đức XVI, là một chứng tá đối với tất cả chúng ta về một đức tin cá nhân rất vững chắc; giáo huấn của ngài và sự khôn ngoan của ngài đã định hướng cho cả thế hệ”: đó là thông điệp của Hội đồng Giám mục Hungary.
ACLI cùng hiệp với lời chia buồn và lời cầu nguyện của toàn thể Giáo hội hoàn vũ về việc Đức Biển Đức XVI qua đời khi nói rằng ngài “được hướng dẫn bởi niềm say mê mãnh liệt đối với sự thật mà ngài hiểu là biểu hiện của tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người trong Chúa Giêsu Kitô”.
“Chúa Kitô là gốc rễ của tư tưởng và là nền tảng cho lời cầu nguyện của ngài”: đây là lời nhấn mạnh của Justin Welby, Tổng Giám mục Anh giáo của Canterbury. Ngài nói rằng ngài “thương tiếc” vì sự ra đi của Đức nguyên Giáo hoàng.
Liên hiệp Phật giáo Ý cũng thể hiện sự gần gũi và chia sẻ nỗi đau của Giáo hội Công giáo Ý và Giáo hội toàn cầu về sự ra đi của Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI. Thông điệp của Liên hiệp viết: “Chúng tôi nhớ đến ngài như một người có suy tư và nghiên cứu thần học sâu sắc, chú ý đến đối thoại liên tôn. Tầm vóc của ngài như một học giả thông thái được đi kèm với sự hiền lành của ngài. Việc từ nhiệm của ngài là một cử chỉ gây chấn động toàn thế giới và cộng đồng của tín đồ thuộc bất kỳ đức tin nào.”
Từ Vatican, Hàn lâm viện Toà Thánh về Sự sống nhớ đến Đức Biển Đức XVI như là một trong những “nhân vật thần học có thẩm quyền nhất của thế kỷ 20”, nêu bật sự phục vụ của ngài “trong vườn nho của Chúa” và cam kết không ngừng của ngài “để làm cho đức tin trở nên dễ hiểu và đáng tin cậy cho con người hiện đại.”
Lời phân ưu của giới chính trị
Giới chính trị bày tỏ sự tưởng nhớ Đức nguyên Giáo Hoàng trên Twitter. Chủ tịch Nghị viện châu Âu, Roberta Metsola bày tỏ nỗi buồn về cái chết của Đức Biển Đức XVI: “Châu Âu thương tiếc ngài, mong ngài yên nghỉ”. Bà nhắc lại lời của ngài: “Đừng sợ thế giới, cũng như tương lai , cũng đừng sợ sự yếu đuối của bạn”.
Thủ tướng Đức Olaf Scholz, từ nước Đức, cũng bày tỏ lời chia buồn khi khẳng định rằng thế giới mất đi “một nhân vật đặc biệt” của Giáo hội Công giáo.
Thủ tướng Anh, Rishi Sunak, nói rằng ông vô cùng đau buồn và gọi Đức nguyên Giáo hoàng là “một nhà thần học vĩ đại”.
Trên twitter, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron viết: “Tôi nghĩ đến những người Công giáo ở Pháp và trên thế giới, đang đau buồn trước cái chết của Đức Biển Đức XVI. Ngài đã làm việc bằng cả tâm hồn và trí tuệ cho một thế giới huynh đệ hơn.”
Lời chia buồn của Ý
Từ Ý, Tổng thống Sergio Mattarella thay cho toàn quốc gia bày tỏ lòng thương tiếc. Ông nói: “Sự dịu dàng và khôn ngoan của ngài đã mang lại lợi ích cho cộng đồng của chúng ta và toàn thể cộng đồng quốc tế. Với sự cống hiến, ngài tiếp tục phục vụ Giáo hội của mình trong vai trò chưa từng có của nguyên Giáo hoàng với sự khiêm tốn và thanh thản. Hình bóng của ngài sẽ không thể nào quên được đối với người dân Ý.”
Bà Giorgia Meloni, Thủ tướng Ý, đã định nghĩa Đức Biển Đức XVI là “một người yêu Chúa, người sẽ tiếp tục nói với trái tim và khối óc của con người bằng chiều sâu tâm linh, văn hóa và trí tuệ trong Huấn quyền của ngài.” “Một nhân vật vĩ đại trong lịch sử mà lịch sử sẽ không bao giờ quên.”
Ông Giorgio Napolitano, cựu Tổng thống Ý, trong thông điệp gửi Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: “Những kỷ niệm và mối quan hệ quý mến và tình bạn đáng kính đã ràng buộc tôi với Đức Biển Đức XVI, đặc biệt được phát triển trong những năm tôi làm Tổng thống Cộng hòa Ý. Mặc dù tôi đến từ những kinh nghiệm nhân bản và tri thức xa xôi và khác biệt, với Đức Thánh Cha, tôi đã có thể phát triển sự chia sẻ những lo lắng và dự định cũng như thói quen suy tư về tương lai của Ý và Châu Âu”.
Đối với thị trưởng Rôma, Roberto Gualtieri, Đức Biển Đức XVI là “nhà thần học vĩ đại”, người nhấn mạnh việc huấn quyền của ngài đã có thể đồng hành với Giáo hội trong thế giới đương đại thế nào. Thủ đô chia sẻ nỗi đau của các tín hữu từ khắp nơi trên thế giới.”
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
THÔNG BÁO
Ngày 31 tháng 12 năm 2022.
Kính thưa quí Đức Hồng Y, quí Đức Cha,
quí cha và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa,
Văn phòng Báo chí Tòa Thánh thông báo: Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã về Nhà Cha, lúc 9 giờ 34 theo giờ Roma, tức 15g34 giờ Việt Nam, ngày 31 tháng 12 tại tu viện Mater Ecclesiae trong nội thành Vatican, thọ 95 tuổi.
Hội Thánh đã mất một người Cha thánh thiện, một Mục tử nhân từ, một bậc Thầy lỗi lạc, một Chứng nhân trung kiên.
Thánh lễ an táng sẽ được Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành lúc 9g30 theo giờ Roma, ngày thứ Năm, 5-1-2023, tại Quảng trường thánh Phêrô.
Để sống tình hiệp thông trong Hội Thánh, trong ngày an táng, tức thứ Năm, ngày 5 tháng 1 năm 2023, toàn thể Hội Thánh tại Việt Nam sẽ dâng thánh lễ cầu hồn cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, tại nhà thờ chính tòa do Đức Giám mục chủ sự, cũng như tại các nhà thờ và nhà nguyện.
Nguyện xin Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót ban cho “người thợ khiêm nhường trong vườn nho của Chúa” được hưởng vinh phúc Nước Trời.
(đã ấn ký)
+ Giuse Nguyễn Năng
Tổng giám mục Sài Gòn – Tp. HCM
Chủ tịch Hội đồng Giám mục VN
Toà Thánh đã công bố Chúc thư tinh thần của Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức XVI, được đề ngày 29 tháng 8 năm 2006.
Chúc thư tinh thần của tôi
Vào giờ phút cuối đời này, khi tôi nhìn lại những thập niên tôi đã sống, trước hết tôi thấy mình có rất nhiều lý do để tạ ơn. Trên hết, tôi tạ ơn chính Thiên Chúa, Đấng ban mọi hồng ân tốt lành, đã ban cho tôi sự sống và dìu dắt tôi qua bao thời điểm hỗn loạn; Người đã nâng tôi dậy khi tôi bắt đầu trượt ngã và luôn cho tôi lại được thấy ánh sáng từ dung nhan của Người. Khi nhìn lại, tôi thấy và hiểu rằng ngay cả những đoạn đường tăm tối và gian khổ của hành trình này cũng là vì ơn cứu độ của tôi và rằng Người đã hướng dẫn tôi tận tình trong chính những đoạn đường đó.
Tôi cảm ơn cha mẹ tôi, những người đã cho tôi sự sống trong một thời điểm khó khăn và bằng tình yêu thương, với sự hy sinh lớn lao, đã chuẩn bị cho tôi một ngôi nhà tuyệt vời, như luồng ánh sáng rực rỡ, đã tỏa sáng suốt những ngày đời tôi cho đến ngày hôm nay. Đức tin mạnh mẽ của cha tôi đã dạy anh chị em chúng tôi tin tưởng và đã đứng vững như kim chỉ nam giữa bao tri thức khoa học của tôi; lòng mộ đạo chân thành và lòng tốt bao la của mẹ tôi vẫn là một di sản mà tôi không thể cảm ơn bà cho đủ. Chị tôi đã chăm sóc tôi một cách vị tha và đầy quan tâm ân cần trong nhiều thập kỷ; anh tôi đã luôn mở đường cho tôi bằng sự sáng suốt trong các phán đoán của anh, bằng quyết tâm mạnh mẽ và bằng tâm hồn vui vẻ của anh; nếu không có điều luôn luôn mới và luôn tiến tới và đồng hành này, tôi đã không thể tìm ra con đường đúng đắn.
Từ tận đáy lòng tôi tạ ơn Chúa vì có rất nhiều bạn bè, nam cũng như nữ, những người mà Người luôn đặt ở bên cạnh tôi; tạ ơn về những người đồng nghiệp ở mọi giai đoạn trên con đường của tôi; về những giáo sư và sinh viên mà Người đã trao cho tôi. Tôi biết ơn tín thác tất cả họ cho lòng tốt của Người. Và tôi muốn tạ ơn Chúa về ngôi nhà xinh đẹp của tôi ở chân đồi ở Bavaria của dãy Alps, nơi tôi có thể nhìn thấy vẻ huy hoàng của chính Đấng Tạo Hóa tỏa sáng hết lần này đến lần khác. Tôi cảm ơn người dân quê hương tôi đã cho tôi được nhiều lần trải nghiệm vẻ đẹp của đức tin. Tôi cầu nguyện để đất nước của chúng ta sẽ mãi là một đất nước của niềm tin và tôi xin quý vị, những người đồng hương thân mến, đừng để niềm tin của quý vị bị lung lay. Cuối cùng, tôi tạ ơn Chúa vì tất cả vẻ đẹp mà tôi có thể cảm nghiệm được trong các giai đoạn khác nhau của cuộc hành trình của tôi, nhưng đặc biệt là ở Rôma và Ý, nơi đã trở thành quê hương thứ hai của tôi.
Từ tận đáy lòng tôi xin tất cả những người mà tôi đã làm điều sai trái cách nào đó tha thứ cho tôi.
Điều tôi đã nói trên đây với các đồng bào của tôi, giờ đây tôi muốn nói với tất cả những ai được ủy thác để tôi phục vụ trong Giáo hội: Hãy vững vàng trong đức tin! Đừng để bị bối rối! Thông thường, có vẻ như khoa học – một mặt là các khoa học tự nhiên; mặt khác, nghiên cứu lịch sử (đặc biệt là chú giải Kinh Thánh) – có những ý tưởng không thể bác bỏ có thể đưa ra những điều trái ngược với đức tin Công giáo. Từ xa xưa, tôi đã chứng kiến những thay đổi trong khoa học tự nhiên và đã thấy những điều rõ ràng chắc chắn chống lại đức tin đã biến mất như thế nào, chứng tỏ chúng không phải là khoa học mà là những diễn giải triết học chỉ có vẻ bề ngoài của khoa học – cũng như, hơn nữa, chính trong đối thoại với khoa học tự nhiên mà đức tin đã học để hiểu giới hạn của điều nó khẳng định và từ đó hiểu tính đặc thù của chính nó. 60 năm nay, tôi đã đồng hành trên con đường thần học, đặc biệt là nghiên cứu Kinh Thánh, và đã chứng kiến những luận điểm dường như không thể lay chuyển được đã sụp đổ cùng với sự thay đổi của các thế hệ, những điều hóa ra chỉ là những giả thuyết: thế hệ tự do (Harnack, Jülicher, v.v.), thế hệ chủ nghĩa hiện sinh (Bultmann, v.v.), thế hệ chủ nghĩa Mác-xít. Tôi đã thấy, và thấy, từ mớ giả thuyết rối rắm, tính hợp lý của đức tin đã xuất hiện và đang xuất hiện trở lại như thế nào. Chúa Giêsu Kitô thực sự là Đường, Sự Thật và Sự Sống – và Giáo Hội, trong mọi khuyết điểm của mình, thực sự là Thân Thể của Người.
Cuối cùng, tôi khiêm tốn xin cầu nguyện cho tôi, để Chúa đón nhận tôi vào nơi cư ngụ vĩnh cửu, bất chấp mọi tội lỗi và khuyết điểm của tôi. Đối với tất cả những người được uỷ thác cho tôi, lời cầu nguyện chân thành của tôi vang lên ngày này qua ngày khác.
Giáo hoàng Biển Đức XVI
Đức nguyên Giáo hoàng Biển Đức, 95 tuổi, đã từ trần vào lúc 9:34 giờ Roma tại nơi cư trú của ngài ở Vatican. Di hài của ngài sẽ được đặt tại Đền thờ thánh Phêrô từ sáng thứ Hai 2/1/2023 để các tín hữu kính viếng.
Vatican News
Đức Biển Đức XVI đã trở về Nhà Cha. Cách đây ít phút, Phòng Báo chí Toà Thánh đã thông báo rằng ngài đã qua đời vào lúc 9:34 giờ Roma tại đan viện Mater Ecclesiae, nơi Đức nguyên Giáo hoàng, 95 tuổi, đã chọn làm nơi cư trú sau khi từ nhiệm vào năm 2013.
Tin tức về sức khoẻ suy giảm
Từ một số ngày qua, tình trạng sức khỏe của Đức nguyên Giáo hoàng đã trở nên xấu đi rất nhiều do tuổi cao sức yếu, như Phòng Báo chí đã đưa tin khi cập nhật về diễn biến tình trạng sức khoẻ của ngài.
Chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã muốn chia sẻ công khai tin tức về tình trạng sức khoẻ xấu đi của vị tiền nhiệm vào cuối buổi tiếp kiến chung cuối cùng của năm, hôm 28 tháng 12 vừa qua, khi mời gọi cầu nguyện cho Đức nguyên Giáo hoàng, “rất yếu”, để xin Chúa an ủi ngài và nâng đỡ ngài “trong chứng tá tình yêu dành cho Giáo hội cho đến cùng.” Và ngay lập tức, tại tất cả các châu lục, nhiều chương trình cầu nguyện đã được nhân rộng với các sứ điệp liên đới và gần gũi ngay cả từ những người ngoài Giáo hội.
Trong vài giờ tới, tin tức về nghi thức tang lễ sẽ được Văn phòng Báo chí Vatican thông báo
Cựu phát ngôn viên của Đức Biển Đức XVI đã phác thảo tiểu sử của Đức Joseph Ratzinger và sứ mạng đặc biệt của ngài, được tập trung vào niềm tin vào Chúa Kitô. Một đức tin luôn đối thoại với lý trí, và do đó, với thế giới, để tìm kiếm thứ chân lý không phải là một tập hợp các khái niệm nhưng là Tình yêu nhập thể.
Federico Lombardi
“Sẽ không lâu nữa tôi sẽ đứng trước vị thẩm phán cuối cùng của đời mình. Mặc dù khi nhìn lại cuộc đời dài đằng đẵng của mình, tôi có thể có quá nhiều lý do để sợ hãi và lo sợ, nhưng lòng tôi vẫn vui mừng bởi vì tôi tin tưởng chắc chắn rằng Chúa không chỉ là vị thẩm phán công bằng, mà còn là người bạn và người anh của tôi; chính Người đã đau khổ vì những thiếu sót của tôi và do đó, ngài là vị thẩm phán và đồng thời cũng là trạng sư của tôi. Trước giờ phán xét, ân sủng được làm Kitô hữu trở nên rất rõ ràng đối với tôi. Là Kitô hữu mang lại cho tôi sự hiểu biết, hơn nữa, tình bạn với vị thẩm phán của cuộc đời tôi và cho phép tôi tự tin bước qua cánh cửa tăm tối của cái chết. Về phương diện này, điều thánh Gioan thuật ở đầu Sách Khải Huyền luôn hiện lên trong tâm trí tôi: ngài nhìn thấy Con Người trong tất cả sự cao cả của Người và ngã xuống như thể đã chết. Nhưng Người đặt tay hữu trên ngài và nói: ‘Đừng sợ! Ta là …’ (x. Kh 1,12-17)”. Đức Biển Đức XVI đã viết như vậy trong bức thư cuối cùng của ngài, đề ngày 6 tháng 2 năm nay, vào cuối những ngày đau khổ “kiểm thảo lương tâm và suy tư” về những lời chỉ trích nhằm vào ngài về vấn đề lạm dụng khi ngài còn là Tổng Giám mục Munich hơn 40 năm trước.
Cuối cùng giờ phút gặp gỡ Chúa đã đến. Chắc chắn chúng ta không thể nói rằng đó là điều bất ngờ và cụ già đáng kính của chúng ta đã không chuẩn bị cho điều này. Nếu vị tiền nhiệm của ngài đã cho chúng ta một chứng tá quý giá và khó quên về cách sống trong đức tin một căn bệnh tiến triển đau đớn cho đến chết, thì Đức Biển Đức XVI đã cho chúng ta một chứng tá tuyệt vời về cách sống trong đức tin sự mong manh ngày càng tăng của tuổi già trong nhiều năm cho đến cùng. Việc ngài từ nhiệm vào đúng thời điểm đã cho phép ngài – và cho phép chúng ta cùng với ngài – đi trên con đường này một cách vô cùng thanh thản.
Ngài được ơn hoàn thành cuộc hành trình của mình với tâm trí minh mẫn, đến gần, cách hoàn toàn ý thức ,với những “thực tại cuối cùng” mà ngài có can đảm để suy nghĩ và nói, như một số ít người, nhờ vào đức tin đã nhận được và đã sống. Vừa là nhà thần học vừa là Giáo hoàng, ngài đã nói với chúng ta về điều này một cách sâu sắc, đáng tin cậy và thuyết phục. Những trang sách và những lời của ngài về cánh chung học, thông điệp của ngài về niềm hy vọng vẫn là một món quà cho Giáo hội mà lời cầu nguyện thầm lặng của ngài đã đóng ấn trong những năm dài ẩn dật “trên núi.”
Trong số rất nhiều điều có thể nhớ về triều đại Giáo hoàng của ngài, điều thực sự là điều phi thường nhất đối với tôi, và tiếp tục đối với tôi, chính là trong những năm đó, ngài đã viết và hoàn thành bộ ba tác phẩm về Chúa Giêsu. Làm thế nào một vị Giáo hoàng, với những trách nhiệm và những mối bận tâm về Giáo hội hoàn vũ mà ngài đã thực sự gánh vác trên vai, có thể viết được một tác phẩm như thế? Chắc chắn, đó là kết quả của cả cuộc đời suy tư và nghiên cứu. Nhưng chắc chắn là niềm đam mê nội tâm, động lực phải vô cùng mạnh mẽ. Các trang của tác phẩm đến từ ngòi bút của một học giả, nhưng đồng thời cũng là của một tín hữu đã dành cuộc đời mình để tìm kiếm một cuộc gặp gỡ với khuôn mặt của Chúa Giêsu và đồng thời nhìn thấy trong đó sự hoàn thành của ơn gọi và sự phục vụ tha nhân của mình.
Theo nghĩa này, mặc dù tôi hiểu rõ tại sao ngài nói rõ rằng tác phẩm đó không được coi là “huấn quyền giáo hoàng”, nhưng tôi vẫn tiếp tục nghĩ rằng đó là một phần thiết yếu trong chứng từ của ngài về sự phục vụ với tư cách là giáo hoàng, nghĩa là với tư cách là một tín hữu, người nhận ra Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, và dựa vào đức tin của ngài chúng ta cũng có thể tiếp tục nâng đỡ đức tin của mình. Theo nghĩa này, tôi không thể xem là điều ngẫu nhiên thời điểm ngài đưa ra quyết định từ chức Giáo hoàng, tức là mùa hè năm 2012, trùng với thời điểm kết thúc bộ ba tác phẩm về Chúa Giêsu. Thời gian hoàn thành một sứ vụ tập trung trên niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô.
Không còn nghi ngờ gì nữa, triều đại giáo hoàng của Đức Biển Đức XVI được đặc trưng bởi giáo huấn của ngài hơn là bởi hoạt động lãnh đạo. “Tôi biết rõ rằng sức mạnh của tôi – nếu tôi có – là khả năng trình bày đức tin theo cách phù hợp với nền văn hóa của thời đại chúng ta” (…). Một đức tin luôn đối thoại với lý trí, một đức tin hợp lý; một lý trí mở ra với đức tin. Đức Giáo hoàng Ratzinger đã được kính trọng một cách đúng đắn bởi những người sống chú ý đến các chuyển động của tư tưởng và tinh thần và cố gắng đọc các sự kiện theo ý nghĩa sâu sắc và lâu dài nhất của chúng, mà không dừng lại ở bề nổi của các sự kiện và các thay đổi. Không phải vô cớ mà một số bài phát biểu tuyệt vời của ngài trước cử tọa không chỉ gồm những người thuộc Giáo hội, mà cả các đại diện của toàn xã hội, ở London, ở Berlin đã khắc sâu trong ký ức… Ngài không ngại đối đầu với những ý kiến và lập trường khác biệt, ngài nhìn với sự chân thành và tầm nhìn xa đối với những vấn đề lớn, đối với sự mờ mịt về sự hiện diện của Thiên Chúa ở chân trời của nhân loại đương đại, đối với những câu hỏi về tương lai của Giáo hội, đặc biệt là ở đất nước của ngài và ở Châu Âu. Và ngài đã cố gắng đối mặt với các vấn đề một cách trung thực, không trốn tránh chúng ngay cả khi chúng rất bi thương; nhưng đức tin và sự hiểu biết về đức tin đã giúp ngài luôn tìm thấy một viễn cảnh hy vọng.
Năng lực trí tuệ và văn hóa của Đức Joseph Ratzinger đã quá nổi tiếng nên không cần phải lặp lại những lời ca ngợi ngài. Đức Gioan Phaolô II là người có khả năng hiểu và đánh giá cao điều đó cho Giáo hội hoàn vũ. 24 năm trong 26 năm triều đại Giáo hoàng của vị tiền nhiệm, Đức Ratzinger là Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin. Hai tính cách khác nhau nhưng – cho phép tôi được nói điều đó – một “cặp đôi tuyệt vời.” Triều đại giáo hoàng kéo dài của Đức Giáo hoàng Wojtyla không thể được suy nghĩ đầy đủ, từ quan điểm tín lý, nếu không có sự hiện diện của Đức Hồng y Ratzinger và sự tin tưởng đặt nơi ngài, nơi nền thần học giáo hội của ngài, nơi sự rộng lớn và sự quân bình trong tư tưởng của ngài. Phục vụ sự hiệp nhất đức tin của Giáo hội trong những thập kỷ sau Công đồng Vatican II bằng cách đối mặt với những căng thẳng và thách thức mang tính thời đại trong cuộc đối thoại với Do Thái giáo, trong phong trào đại kết, trong cuộc đối thoại với các tôn giáo khác, trong cuộc đối đầu với chủ nghĩa Mác-xít, trong bối cảnh thế tục hóa và trong sự biến đổi của quan điểm về con người và về tính dục… có khả năng đề xuất một tổng hợp giáo lý rộng rãi và hài hòa như tổng hợp Giáo lý Giáo hội Công giáo, được đại đa số cộng đoàn Giáo hội hoan nghênh với sự đồng thuận không ngờ, cũng như dẫn dắt cộng đoàn này vượt qua ngưỡng cửa thiên niên kỷ thứ ba khi cảm nhận mình là người mang sứ điệp cứu rỗi cho nhân loại…
Trên thực tế, sự hợp tác rất lâu dài và đặc biệt đó là sự chuẩn bị cho triều đại giáo hoàng của Đức Biển Đức XVI, được các Hồng y coi là người tiếp tục và kế vị phù hợp nhất công việc của Đức Giáo hoàng Wojtyla. Một cái nhìn tổng thể về hành trình của Đức Joseph Ratzinger không làm mất – trái lại nó gây ấn tượng – tính liên tục của hướng đi chính của ngài và đồng thời là sự mở rộng dần dần chân trời phục vụ của ngài.
Ơn gọi của Joseph Ratzinger ngay từ đầu là ơn gọi linh mục, đồng thời là nghiên cứu thần học và hoạt động phụng vụ và mục vụ. Nó tiến triển trong các giai đoạn khác nhau, từ chủng viện đến những kinh nghiệm mục vụ đầu tiên và giảng dạy đại học; sau đó, chân trời lần đầu tiên được mở rộng ra với kinh nghiệm về Giáo hội phổ quát khi tham dự Công đồng và mối quan hệ với các nhà thần học vĩ đại của thời đại; sau đó, ngài quay trở lại hoạt động học thuật nghiên cứu thần học chuyên sâu, nhưng luôn ở trung tâm của cuộc tranh luận và kinh nghiệm Giáo hội; sau đó nó lại mở rộng trong hoạt động mục vụ của tổng giáo phận Munich rộng lớn; chuyển sang phục vụ Giáo hội hoàn vũ hoàn toàn với lời kêu gọi đến Rôma để lãnh đạo Bộ Giáo lý Đức tin; cuối cùng, một lời kêu gọi mới dẫn ngài đến việc cai quản toàn thể cộng đoàn Giáo hội. Chân trời đã trở nên hoàn chỉnh không chỉ về suy tư, mà còn cho cả thừa tác vụ linh mục và việc mục vụ. Phục vụ toàn thể cộng đồng Giáo hội, dẫn dắt Giáo hội cách thông minh trên những con đường của thời đại chúng ta, bảo vệ sự hiệp nhất và chân thật của đức tin. Khẩu hiệu được chọn nhân dịp tấn phong giám mục, “Những người cộng tác của chân lý” (3 Ga, 8), diễn tả rất rõ ràng toàn bộ sợi dây về cuộc đời và ơn gọi của Đức Joseph Ratzinger, nếu chúng ta hiểu rằng đối với ngài, chân lý không hề là một tập hợp các khái niệm trừu tượng, nhưng trong phân tích cuối cùng nó được thể hiện trong con người của Chúa Giêsu Kitô.
Triều đại Giáo hoàng của Đức Biển Đức XVI đang và sẽ được nhớ đến cách chung như một triều đại Giáo hoàng được đánh dấu bởi những thời kỳ khủng hoảng và khó khăn. Đó là sự thật và sẽ không công bằng nếu bỏ qua khía cạnh này. Nhưng phải nhìn nhận và không được đánh giá cách hời hợt. Đối với những lời chỉ trích và chống đối bên trong hoặc bên ngoài, chính ngài mỉm cười nhớ lại rằng một số Giáo hoàng khác đã phải đối mặt với những thời điểm và tình huống kịch tính hơn nhiều. Không cần phải quay trở lại những cuộc bách hại của những thế kỷ đầu tiên, chỉ cần nghĩ đến Đức Piô IX hoặc Đức Biển Đức XV, khi ngài lên án “cuộc tàn sát vô ích”, hoặc tình cảnh của các Giáo hoàng trong các cuộc chiến tranh thế giới. Vì vậy, ngài không coi mình là một người tử vì đạo. Không một Giáo hoàng nào có thể tưởng tưởng mình không gặp phải những chỉ trích, khó khăn và căng thẳng. Điều này không bỏ qua sự thật là, nếu cần thiết, ngài biết cách phản ứng lại những lời chỉ trích một cách sôi nổi và quyết đoán, như đã xảy ra với Bức thư không thể quên, được ngài viết cho các Giám mục vào năm 2009, sau vụ tha vạ tuyệt thông cho những người thuộc nhóm Lefèbvre và “vụ việc Williamson”; một bức thư đầy tâm huyết mà thư ký của ngài đã nhận xét với tôi rằng “Ratzinger viết với tâm hồn thuần khiết.”
Nhưng thập giá nặng nề nhất trong triều đại giáo hoàng của ngài, điều mà ngài đã bắt đầu nhận ra mức độ nghiêm trọng trong suốt thời gian ngài làm việc tại Bộ Giáo lý Đức tin và tiếp tục là một thử thách và thách đố có ý nghĩa lịch sử đối với Giáo hội, là vấn đề lạm dụng tính dục. Đây cũng là lý do dẫn đến những lời chỉ trích và công kích cá nhân đối với ngài cho đến những năm qua, do đó cũng là lý do khiến ngài đau khổ vô cùng. Chính tôi cũng đã tham gia rất nhiều vào các chủ đề này trong triều đại Giáo hoàng của ngài, tôi tin chắc rằng ngài đã nhìn thấy mức độ nghiêm trọng của các vấn đề một cách sáng suốt hơn bao giờ hết và có công lớn trong việc giải quyết chúng với tầm nhìn rộng và sâu sắc trong các chiều kích khác nhau: lắng nghe các nạn nhân, nghiêm khắc trong việc theo đuổi công lý khi đối mặt với tội ác, chữa lành vết thương, thiết lập các quy tắc và thủ tục phù hợp, đào tạo và ngăn ngừa điều xấu. Đó mới chỉ là khởi đầu của một hành trình dài, nhưng đúng hướng và với sự khiêm nhường lớn lao. Đức Biển Đức không bao giờ lo lắng về một “hình ảnh” của mình hoặc của Giáo hội không tương ứng với sự thật. Và ngay cả trong lĩnh vực này, ngài luôn hoạt động với quan điểm của một người có đức tin. Ngoài những biện pháp mục vụ hay pháp lý cần thiết để đối phó với sự dữ được thể hiện trong nhiều hình thức của nó, ngài đã cảm thấy sức mạnh bí ẩn và khủng khiếp của sự dữ và nhu cầu kêu cầu ân sủng để không bị đè bẹp trong tuyệt vọng và tìm ra con đường chữa lành, hoán cải, đền tội, thanh luyện, mà con người, Giáo hội và xã hội đang cần.
Khi tôi được yêu cầu kể lại ngắn gọn, với một sự kiện, câu chuyện về triều đại giáo hoàng của Đức Biển Đức XVI, tôi nhớ lại buổi canh thức cầu nguyện trong Ngày Giới trẻ Thế giới ở Madrid, năm 2011, trên khoảng sân rộng lớn của sân bay Cuatro vientos, với khoảng một triệu bạn trẻ tham dự Trời đã về chiều, bóng tối ngày càng dày đặc khi Đức Giáo hoàng bắt đầu bài phát biểu của mình. Tới một lúc, một cơn bão với mưa gió thực sự đổ xuống. Hệ thống ánh sáng và âm thanh bị ngưng hoạt động và nhiều lều ở gần phía ngoài bị sập. Tình hình thực sự gay cấn.Đức Giáo hoàng đã được các cộng tác viên của ngài mời di chuyển đi nơi khác và trú ẩn, nhưng ngài không muốn. Ngài vẫn kiên nhẫn và can đảm ngồi ở chỗ của mình trên sân khấu ngoài trời, được bảo vệ bởi một chiếc dù đơn giản đang bị gió thổi mạnh. Tất cả đám đông đều noi gương ngài, với lòng tin tưởng và kiên nhẫn. Sau một thời gian, cơn bão dịu đi, mưa tạnh và một sự an hoà tuyệt vời hoàn toàn bất ngờ đã đến. Các hệ thống điện bắt đầu hoạt động trở lại. Đức Thánh Cha kết thúc bài phát biểu của mình và mặt nhật tuyệt vời của nhà thờ chính tòa Toledo được đưa ra giữa sân khấu để Chầu Thánh Thể. Đức Thánh Cha quỳ gối thinh lặng trước Thánh Thể và sau lưng ngài, trong bóng tối, cộng đoàn đông đảo cùng nhau cầu nguyện hồi lâu trong sự tĩnh lặng tuyệt đối.
Theo một nghĩa nào đó, đây có thể vẫn là hình ảnh không chỉ của triều đại giáo hoàng, mà còn của cuộc đời của Đức Joseph Ratzinger và mục tiêu của cuộc hành trình của ngài. Trong khi giờ đây ngài bước vào sự thinh lặng mãi mãi trước mặt Chúa, thì chúng ta cũng tiếp tục cảm thấy mình ở phía sau ngài và với ngài.
* Cha Federico Lombardi là Chủ tịch Quỹ Joseph Ratzinge – Biển Đức XVI của Vatican
Maria, Thánh Mẫu Chúa Trời,
Thiên cung mừng hát rạng ngời hân hoan.
Maria, Mẹ Chúa vũ hoàn,
Hôm nay Giáo Hội ngập tràn ân thiêng.
Cộng đoàn Nhà Mẹ minh nhiên,
Tung hô Danh Mẹ triền miên ca mừng.
Hôm nay Thiên Quốc tưng bừng,
Đoàn con Tân Lập không ngừng tôn vinh.
Tụng ca Mẹ Chúa Thiên Đình,
Mẹ là Hoàng Mẫu Đồng Trinh khiêm nhường.
Mẹ xưa khiêm hạ Chúa thương,
Chọn làm Mẹ Chúa, Thiên Đường Ngôi Hai.
Mẹ xưa nơi chốn trần ai,
Nêu gương khiêm tốn miệt mài dấn thân.
Thánh Gia sống ở thế trần,
Mẹ: người nội trợ ân cần đảm đang.
Khiêm nhu phục vụ dịu dàng,
Hiền hòa thăm viếng nhẹ nhàng đềm êm.
Đoàn con mến Mẹ trọn niềm,
Quyết theo gương Mẹ dịu hiền hiến dâng.
Cùng chung khúc hát Thiên Đàng,
Kính mừng Thánh Mẫu huy hoàng Thiên Cung.
Họp mừng Bổn Mạng tưng bừng,
Đoàn con chào kính Mẫu Hoàng Mùa Xuân.