Cây sen đá lúc nào cũng khiến tôi bật cười nhẹ. Nhìn bé xíu mà “sống lì” thật đáng nể – quên tưới nước vài ngày cũng không giận, đặt chỗ nắng hay chỗ mát đều vui vẻ lớn lên. Thế nhưng rồi đến một ngày, những hạt mưa nghịch như đùa đã làm cho cây sen đá úng nước và nó chết đi – một sự ra đi âm thầm, không báo trước.
Sự ra đi vội vã ấy khiến tôi thoáng sững sờ. Trong khoảnh lặng ấy, tôi được đánh động sâu xa về hồng ân sự sống nơi chính mình. Tôi thầm tạ ơn Chúa vì Ngài đã yêu thương, đồng hành và gìn giữ tôi trong suốt cuộc hành trình. Từ giây phút tôi được thành hình trong cung lòng mẹ cho đến từng chặng đường tôi đi: những nụ cười, nước mắt, đổi thay, cùng biết bao thăng trầm của cuộc sống – tất cả đã tôi luyện nên tôi hôm nay, để tôi có thể nhận ra từng dấu chỉ yêu thương, từng kế hoạch nhiệm mầu mà Chúa dành riêng cho cuộc đời mình. Mọi điều ấy như một bản hoà ca vang lên trong tâm hồn, gợi lên niềm tri ân sâu thẳm.
Tôi chợt nhớ lời của một vị giáo sư: “Cái cây ta trồng ở đâu thì nó ở đấy. Dù mưa hay bão, nó vẫn phải trụ đó. Nó không có sự tự do để chọn lựa.” Còn chúng ta thì khác, chúng ta được Thiên Chúa ban tặng sự “tự do”: tự do để sống, để chọn lựa, để phân định điều thuộc về sự sống đích thực. Tự do ấy không chỉ là khả năng làm điều mình thích, mà còn là lời mời gọi bước vào chiều sâu nội tâm, bởi mọi thái độ và cử chỉ bên ngoài đều phản ánh phần nào sự trưởng thành, sự trung thực và vẻ đẹp của tâm hồn.
Hồng ân sự sống thật cao quý và linh thiêng. Nhận ra điều ấy đã là một hồng ân; nhưng làm sao để sống, để chăm chút và làm triển nở hồng ân ấy trong chính đời mình? Đó không chỉ là câu hỏi của riêng tôi, mà còn của cả bạn – một câu hỏi đòi ta trả lời bằng chính cung cách sống từng ngày.
Tôi khẽ mỉm cười và thầm tạ ơn Chúa. Ngài vẫn dạy tôi những bài học âm thầm qua chính những thụ tạo nhỏ bé mà Ngài đã dựng nên. Cám ơn cây sen đá – “người thầy bé nhỏ” – đã nhắc tôi thêm một lần nữa rằng: sống trọn vẹn giây phút hiện tại không chỉ là một thái độ sống, mà còn là lời đáp trả trước hồng ân sự sống mà Chúa đã trao ban.
Maria Thanh Mai (Tiền Tập)
Chiều ngày 02/12, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã kết thúc chuyến Tông du sáu ngày đến Thổ Nhĩ Kỳ và Libăng, một hành trình được đánh dấu bằng thông điệp hòa bình, đại kết và đối thoại liên tôn. Trên chuyến bay trở về Roma, Đức Thánh Cha vẫn duy trì truyền thống gửi điện tín từ trên không phận các quốc gia ngài bay qua.
Sau khi cử hành Thánh lễ bế mạc tại khu vực “Beirut Waterfront”, vào lúc 12:45 giờ Beirut, Đức Thánh Cha đã di chuyển bằng xe ô tô tới sân bay quốc tế Beirut-Rafic Hariri.
Tại đây, nghi thức từ biệt tại sân bay diễn ra trang trọng, bao gồm chào hỏi các phái đoàn hai bên và nghi thức Đội Danh Dự, cùng với các bài diễn văn của Tổng thống Cộng hòa Libăng và Đức Thánh Cha.
Trong bài diễn văn chia tay Đức Thánh Cha Lêô XIV, Tổng thống Joseph Aoun đã khẳng định chuyến thăm của Đức Thánh Cha sẽ khắc sâu trong ký ức của người dân Libăng. Tổng thống nhấn mạnh rằng Đức Thánh Cha đã mang đến thông điệp hy vọng, bình an và hòa giải cho người dân thuộc mọi tôn giáo, đồng thời tái khẳng định vai trò của Libăng là “mô hình về sự chung sống” và là quê hương của đối thoại. Thay mặt người dân, Tổng thống Aoun tuyên bố đã lắng nghe thông điệp hòa bình của Đức Thánh Cha và cam kết sẽ tiếp tục thực hiện, nhấn mạnh rằng người dân Libăng là dân tộc có đức tin, những người “từ chối sự chết chóc và rời đi”, xứng đáng có được sự sống. Ông kết thúc bằng cách coi Đức Thánh Cha không chỉ là một vị khách mà còn là “một người Cha” đã mang lại niềm an ủi và nhắc nhở rằng thế giới vẫn nhớ tới Libăng.
Đáp lời Tổng thống, Đức Thánh Cha đã bày tỏ lòng tri ân và gửi gắm những lời kêu gọi hòa bình cho đất nước này. Ngài nói:
Ngài Tổng thống,
Các vị Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
Quý Đức Thượng phụ và Anh em Giám mục,
Các nhà chức trách dân sự và tôn giáo,
Anh chị em thân mến,
Rời đi thường khó khăn hơn là đến. Chúng ta đã dành thời gian bên nhau, và ở Libăng, tinh thần gặp gỡ này thật dễ lây lan. Ở đây, tôi nhận thấy mọi người thích tụ họp với nhau, hơn là sống cô lập. Trong khi việc đến đất nước quý vị thật nhẹ nhàng bước vào văn hóa của quý vị, thì việc rời khỏi vùng đất này có nghĩa là mang quý vị trong trái tim tôi. Do đó, chúng ta không rời xa nhau; đúng hơn, sau khi đã gặp gỡ, chúng ta sẽ cùng nhau tiến bước. Chúng ta hy vọng sẽ lôi cuốn toàn bộ Trung Đông vào tinh thần huynh đệ và dấn thân vì hòa bình này, bao gồm cả những người hiện đang tự coi mình là kẻ thù.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn về những ngày đã ở bên quý vị, và tôi vui mừng vì đã có thể hoàn thành ước nguyện của vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô, người đã rất muốn có mặt tại đây. Thực tế, ngài đang ở cùng chúng ta, cùng bước đi với chúng ta bên cạnh những chứng nhân khác của Tin Mừng, những người đang chờ đợi chúng ta trong vòng tay vĩnh cửu của Thiên Chúa. Chúng ta là những người thừa kế những gì các ngài đã tin, thừa kế đức tin, niềm hy vọng và tình yêu đã truyền cảm hứng cho các ngài.
Tôi đã thấy sự tôn kính sâu sắc mà người dân của quý vị dành cho Đức Trinh Nữ Maria, Đấng được cả Kitô hữu và Hồi giáo yêu mến. Tôi đã cầu nguyện tại mộ Thánh Charbel và cảm nhận được những cội rễ tâm linh sâu xa của đất nước này. Lịch sử của quý vị là một nguồn dưỡng chất quý giá có thể nâng đỡ quý vị trên hành trình khó khăn hướng tới tương lai! Tôi vô cùng xúc động trước chuyến thăm ngắn ngủi đến Cảng Beirut, nơi một vụ nổ đã tàn phá khu vực, chưa kể đến nhiều sinh mạng. Tôi đã cầu nguyện cho tất cả các nạn nhân, và tôi mang theo nỗi đau, cùng với khát vọng tìm kiếm sự thật và công lý của rất nhiều gia đình, của cả một đất nước.
Trong những ngày này, tôi đã gặp gỡ nhiều người và bắt tay nhiều người, nhận được cảm giác hy vọng từ những cuộc gặp gỡ này. Quý vị mạnh mẽ như những cây tuyết tùng đang mọc trên những ngọn núi tuyệt đẹp của quý vị, và đầy hoa trái như những cây ô liu đang phát triển trên đồng bằng, ở phía nam và gần biển. Nhân dịp này, tôi gửi lời chào đến tất cả các khu vực của Libăng mà tôi chưa thể ghé thăm: Tripoli và phía bắc, Beqaa và phía nam đất nước, nơi hiện đang trải qua tình trạng xung đột và bất ổn. Khi ôm lấy tất cả quý vị, tôi bày tỏ khát vọng hòa bình của mình, cùng với một lời kêu gọi chân thành: xin cho các cuộc tấn công và hành vi thù địch chấm dứt. Chúng ta phải nhận ra rằng đấu tranh vũ trang không mang lại lợi ích gì. Trong khi vũ khí gây chết chóc, thì đàm phán, hòa giải và đối thoại mang tính xây dựng. Tất cả chúng ta hãy chọn hòa bình làm con đường, chứ không chỉ là mục tiêu!
Chúng ta hãy nhớ lại điều mà Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tái khẳng định khi ở giữa quý vị: Libăng không chỉ là một quốc gia; đó là một thông điệp! Chúng ta hãy học cách làm việc cùng nhau và hy vọng cùng nhau, để điều này có thể trở thành hiện thực.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho người dân Libăng, cho tất cả quý vị, cho Trung Đông và cho toàn thể nhân loại! Shukran, ila al-liqa’! Xin cảm ơn và xin hẹn gặp lại!
Ngay sau diễn văn từ biệt, Đức Thánh Cha lên máy bay ITA Airways A320neo để trở về Roma. Máy bay cất cánh lúc 13:48 phút với hành trình dài 2.380 km từ thủ đô Beirut để trở về Roma.
Trên hành trình bay trở về Roma, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gửi các bức điện tín tới các nguyên thủ quốc gia mà máy bay Ngài bay qua, bao gồm Libăng, quốc đảo Síp, Hy Lạp và Ý. Trong các bức điện tín, Đức Thánh Cha bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tổng thống Joseph Aoun và người dân Libăng vì sự đón tiếp nồng hậu, đồng thời hứa cầu nguyện cho hòa bình và thịnh vượng của đất nước họ. Đức Thánh Cha cũng gửi lời chúc tốt đẹp tới Tổng thống Nikos Christodoulides của Đảo Síp và Tổng thống Konstantinos Tasoulas của Hy Lạp, cùng với lời cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho sự an lành của hai quốc gia này. Khi đến không phận Ý, Đức Thánh Cha gửi lời chào trân trọng tới Tổng thống Sergio Mattarella, nhắc lại niềm vui khi khích lệ mọi người đối thoại mang tính xây dựng và đoàn kết trong chuyến tông du lịch sử của mình.
Đức Thánh Cha cũng đã có buổi họp báo truyền thống với các phóng viên đi cùng.
Máy bay đã hạ cánh xuống Sân bay quốc tế Fiumicino của Roma vào lúc 15:57 giờ Roma. Sau đó, Đức Thánh Cha lên Castel Gandolfo để nghỉ ngơi trước khi trở về Vatican vào chiều hôm sau, thứ Tư ngày 3/12.
Đức Thánh Cha Lêô XIV kết thúc chuyến Tông du đầu tiên của ngài từ ngày 27/11 đến ngày 02/12/2025 tới Thổ Nhĩ Kỳ và Libăng, mang sứ điệp đại kết và đối thoại liên tôn, của hòa bình và hòa giải đến hai quốc gia, cũng như khu vực Trung Đông đầy biến động. Chuyến tông du tái khẳng định vai trò của Tòa Thánh như một sứ giả của sự hòa bình và đối thoại, mang hy vọng, đặc biệt trong Năm Thánh 2025, cho toàn thể Giáo hội và thế giới.
Mùa Vọng dồn dập những từ “ngày ấy” trong các bản văn Cựu Ước, nhất là từ sách Isaia, báo trước về bức tranh hoà bình thịnh vượng và công chính của thời Mêsia. “Ngày ấy, trong đất Giuđa, người ta hát khúc ca này: Sion là thành trì kiên cố của chúng ta, có tường thành và hào luỹ che chở, hãy mở cửa, và dân công chính biết giữ sự trung tín, hãy tiến vào. Sự sai lầm cũ đã qua đi, Chúa sẽ bảo tồn sự hoà bình… Bàn chân người nghèo khó bước đi, và kẻ bần cùng sẽ đạp trên nó”.
Viễn cảnh tốt đẹp ấy được đem lại bởi “Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Người là sự ‘nương tựa’, là sự ‘cứu độ’ của dân Người (x. Thánh vịnh 117, Đáp ca). Viễn cảnh đó là Nước Trời mà Chúa Giêsu rao giảng. Người khai mạc Nước Trời. Và chính Người là hiện thân của Nước Trời.
Nhưng Chúa Giêsu không một mình làm hết mọi sự. Nước Trời được Người trao, và cần được nhận! Chúa muốn chúng ta đón nhận Nước Trời bằng cách thực hiện ý Cha trên trời. Người nói rõ với các môn đệ: “Không phải tất cả những ai nói với Ta, ‘Lạy Chúa, lạy Chúa!’, là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có người thực hiện ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào Nước Trời”.
Nghe lời Chúa thì vẫn chưa đủ. Điều quan trọng là thực hành lời Chúa nữa. Có hai loại người: những người nghe và những người không nghe. Và theo cách nhìn của Chúa Giêsu, trong số những người nghe cũng có hai loại: những người đem ra thực hành, và những người không đem ra thực hành. Chúa gọi đó là những người ‘khôn ngoan’ và những người ‘ngu đần’!
Mọi sự đã hết sức rõ ràng như thế, nên chúng ta cần lưu ý: dù ta chuẩn bị đủ thứ hoành tráng để mừng lễ Giáng Sinh, mà lại không quan tâm ‘đem lời Chúa ra thực hành’, thì Chúa vẫn bảo rằng ta ngu đần. Nói cách khác, chính việc ‘đem lời Chúa ra thực hành’, chứ không phải việc gì khác, mới là cách tốt nhất để sống Mùa Vọng và để chuẩn bị mừng Chúa Giáng Sinh. Bởi đó là giấy chứng nhận khôn ngoan, và là tấm vé vào Nước Trời.
Lm. Lê Công Đức
Ở cuối các sách Phúc Âm, tức là cuối câu chuyện biến cố Chúa Giêsu lịch sử, ta đều thấy lệnh truyền hay bài sai sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Bản văn của thánh Mác-cô được chọn cho ngày lễ thánh Phanxicô Xavie, vì có những chi tiết rất tương ứng với câu chuyện hành trình sứ mạng của vị thừa sai nổi tiếng này hồi thế kỷ 16. Như việc “đi khắp thế gian”, rao giảng Tin Mừng “cho mọi loài thụ tạo”, như các phép lạ kèm theo rất ngoạn mục…!
Có lẽ phần đông chúng ta không có đặc sủng “đi khắp thế gian”, cũng không được đặc ân thực hiện các phép lạ ngoạn mục. Nhưng bài sai sứ mạng rao giảng Tin Mừng thì vẫn hiệu lực đối với tất cả chúng ta là những người đã lãnh nhận Phép Rửa, không trừ ai. Mọi môn đệ đều có sứ mạng thừa sai, và mọi nhà thừa sai đều là những môn đệ! Quả thật, ơn gọi tông đồ/ thừa sai là ơn gọi do chính Phép Rửa, chứ không phải chỉ dành riêng cho một nhóm nhỏ ưu tú nào đó trong Giáo hội.
Một đức tin đáng tin thì cũng là một đức tin đáng giới thiệu cho người khác. Một niềm vui đặc biệt lớn lao như niềm vui gặp Chúa, biết Chúa, thì tự nhiên sẽ thúc đẩy ta chia sẻ lan rộng ra chứ không thể chấp nhận giữ riêng cho mình. Đây chính là kinh nghiệm của thánh Phaolô khi ngài thốt lên: “Vô phúc cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!”… Đó cũng là động lực mạnh mẽ giúp vị Tông Đồ “trở nên mọi sự cho mọi người”!
Thánh Phanxicô Xavie đã bôn ba các hành trình rao giảng như một ‘Phaolô mới’. Thời của chúng ta hiện nay, với hiện tượng toàn cầu hoá, với việc đi lại nhanh chóng hơn thời trước gấp nhiều lần, và với các mạng lưới truyền thông trong tầm tay mọi người, những chuyến đi rao giảng như các thời trước tuy vẫn cần nhưng không còn là áp lực quá khẩn thiết nữa. Kitô hữu đang có mặt hầu khắp mọi nơi, dù thường chỉ là những nhóm nhỏ. Điều mà chúng ta khẩn thiết phải làm, theo cách nói của Đức thánh cha Phanxicô, đó là “đi ra, đến với các vùng ngoại biên hiện sinh” để làm chứng cho Chúa Giêsu và cho Tin Mừng của Người.
Đến với các vùng ngoại biên hiện sinh, đó là dấn thân vào các lãnh vực của đời sống xã hội, quan tâm tới hoàn cảnh của người nghèo và những người bất hạnh, đem muối và men Tin Mừng ướp vào những cảnh vực còn xa lạ với đức tin và niềm hy vọng Kitô giáo. Trong định hướng căn bản này, thánh Phaolô, thánh Phanxicô Xavie, tất cả các nhà thừa sai qua các thế kỷ đều là nguồn cảm hứng sứ mạng cho chúng ta.
“Vô phúc cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”! Vậy thì bạn hãy tự hỏi bạn đang rao giảng Tin Mừng bằng cách nào, người xung quanh có nhận thấy được niềm vui Tin Mừng của bạn không, và chứng tá đời sống của bạn là những gì…
Lm. Lê Công Đức
Sách Isaia có những lời tiên báo và những mô tả hình tượng đầy phấn khích về thời Mêsia. Chẳng hạn, bông hoa từ gốc Giêsê sẽ đầy tràn các thần trí/ các ân huệ của Thánh Thần. Người sẽ phân xử cho người nghèo theo đức công bình, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở… Nói chung, đó là thời của thái hoà, của bình an, không còn hiểm nguy nào đe dọa nữa, từ vạn vật và từ chính con người.
“Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại Người, cho tới khi mặt trăng không còn chiếu sáng”. Lời này trong Thánh vịnh 71 tiên báo cùng một viễn tượng tốt đẹp trọn vẹn như nội dung tiên báo của đoạn sách Isaia nói trên. Vấn đề là: đã hiện thực chưa “sự công chính và nền hoà bình viên mãn” ấy? Đã hiện thực chưa cái “triều đại” ấy của Chúa?
Chưa, nếu ta nhìn vào những vấn đề ngổn ngang của thế giới chúng ta hôm nay: chiến tranh, xung đột, những phân hoá, những nghi ngờ và sợ hãi, những leo thang và lan tràn của sự dữ trong đủ mọi bộ mặt của nó… Mà không cần phải nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn vào thực tế xã hội và cuộc sống ngay xung quanh mình!
Tuy nhiên, mặt khác, nhìn từ biến cố Chúa Giêsu vốn đã bắt đầu cách đây hai ngàn năm, thì triều đại của Người đã bắt đầu rồi, đang có mặt, và chắc chắn sẽ đi đến hoàn thành dứt khoát. Sự công chính và nền hoà bình của Người tuy chưa viên mãn, nhưng đang triển nở và chắc chắn sẽ đạt đến viên mãn! Đây chính là luận lý của niềm trông cậy của chúng ta. Đây cũng là sức căng (tension) làm nên năng động sứ mạng của chúng ta.
Chúa Giêsu đã đến (mùa Vọng nhắc ta điều này). Người là ‘big bang’, là sự bùng nổ, sự xoay chuyển và sự ấn định lịch sử – cho dẫu đối với nhiều người thì mọi sự vẫn thế, vẫn chẳng có gì quyết định đã xảy ra cả. Chỉ những ai đón nhận Người, tin vào Người, thì mới nhận ra Người đã đem lại sự khác biệt như thế nào: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì đã giấu không cho những người thông thái khôn ngoan biết những điều này, nhưng đã tỏ cho những kẻ đơn sơ”…
Đây nữa: “Không ai biết Chúa Con là ai, ngoài Chúa Cha; cũng không ai biết Chúa Cha là Ðấng nào, ngoài Chúa Con, và những người được Chúa Con muốn tỏ cho biết!”… Và chúng ta dễ dàng nhận ra Chúa Giêsu nói về ai trong những lời này với các môn đệ: “Hạnh phúc cho những con mắt được xem những điều anh em xem thấy; vì chưng Ta bảo anh em: có nhiều tiên tri và vua chúa đã muốn xem những điều anh em thấy, mà chẳng được xem, muốn nghe những điều anh em nghe, mà đã chẳng được nghe”!
Tin và đón nhận Chúa Giêsu, chúng ta thừa hưởng trọn mối phúc ấy, cùng với sứ mạng loan báo Người, và niềm Hy Vọng là chính Người.
Lm. Lê Công Đức
“Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh”.
Lời này của viên đại đội trưởng Rôma thể hiện một lòng tin mạnh mẽ đặt nơi Chúa Giêsu. Ông xuất phát từ kinh nghiệm quyền lực của mình mà đến với lòng tin như thế. Và Chúa Giêsu đã không giấu ngạc nhiên trước lòng tin ấy. Người bình luận: “Không thấy một người Israel nào có lòng tin lớn như vậy!”
Có thể nhận ra, Chúa Giêsu vừa vui mừng vừa cay đắng. Vui vì đức tin của người ngoại giáo này – và cay đắng, buồn tiếc vì bao người trong dân Chúa không chấp nhận tin vào Người, Đấng từ Thiên Chúa mà đến với họ!
Câu chuyện này, trong bối cảnh Mùa Vọng, cũng muốn lưu ý chúng ta hai điều. Thứ nhất, Đấng Mêsia, Đấng được chờ đợi bởi dân Chúa qua bao thế kỷ, là Đấng chữa trị và Đấng cứu sống. Người đến để đem ân phúc chữa lành cho những ai bệnh hoạn tật nguyền… Thứ hai, Người không chỉ đến cho dân riêng của Thiên Chúa là Israel, mà còn kêu gọi lòng tin của mọi người thuộc mọi dân nước. Bởi Người là Đấng cứu độ của mọi người! “Tôi nói cho các ông hay, từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”!
Chúng ta vốn là ‘người ngoài’ theo huyết thống, nhưng trên nguyên tắc thì đã trở thành ‘người ở trong’ theo đức tin… Nhưng trong thực tế, chính phẩm chất đức tin của chúng ta đặt vào Chúa Giêsu mới cho biết ta thực sự đang ở trong hay vẫn còn ở ngoài.
Dân ưu tuyển của Thiên Chúa đã chờ đợi Đấng Mêsia suốt hàng ngàn năm… Rồi khi Đấng Mêsia đến, họ không nhận ra Người, họ bắt hụt Người, thậm chí họ gào thét đòi đóng đinh Người, và Người đã bị đóng đinh thật sự, theo ý họ muốn…
Đó là bài học của lịch sử, bài học thứ nhất mà Mùa Vọng nhắc cho chúng ta. Việc chúng ta đã lãnh Phép Rửa, việc chúng ta mang danh nghĩa ‘Kitô hữu’ thì chưa đủ. Ta cần phải thực sự đặt hết lòng tin vào Chúa Giêsu, như viên sĩ quan ngoại giáo trong câu chuyện Phúc Âm hôm nay!
Lm. Lê Công Đức
Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta bắt đầu hành trình mới của năm Phụng vụ. Chúa Giêsu đã đưa ra lời cảnh báo: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến” (Mt 24,42). Trang Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta một thái độ sống cốt lõi: Sự Tỉnh Thức.
Chúa Giêsu dùng ba hình ảnh rất sống động để diễn tả ngày Chúa sẽ đến.
1. Thời ông Nôê
Hình ảnh thứ nhất là thời ông Nôê. Người ta cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng, cứ cuồng quay theo nhịp sống thường ngày. Họ bị cuốn vào những lo toan thường nhật và những hưởng thụ trước mắt đến độ quên mất cùng đích cuộc đời. Họ ngủ quên trong sự an toàn giả tạo. Nguy hiểm lớn nhất của đời sống đức tin đó chính là “sự vô tâm”; là sự ngủ mê trong những điều quá quen thuộc, để rồi không còn thấy Chúa đang hiện diện trong cuộc sống của chính mình. Ngược lại, ông Nôê đã tỉnh thức lắng nghe lời mời gọi của Chúa sắp có nạn Hồng Thủy xảy ra và ông đã sẵn sàng chuẩn bị đóng tàu. Nhờ đó, ông và gia đình ông được cứu độ.
2. Thái độ làm việc mỗi ngày
Hình ảnh thứ hai là hình ảnh hai người đang cùng làm những công việc rất bình thường của đời sống: cày ruộng, xay bột để kiếm sống mỗi ngày nhưng Chúa đã đến và chạm vào cuộc đời mỗi người rất khác nhau. Nhìn vào bề ngoài, họ làm những việc giống hệt nhau, nhưng kết cục lại khác nhau: “một người được đem đi, một người bị bỏ lại”. Sự khác biệt nằm ở tâm thế bên trong: một người làm việc với tâm hồn hướng về Chúa, còn người kia thì không. Như thế, ơn cứu độ của Chúa không tùy thuộc vào việc ta đang ở đâu hay làm gì mà tùy thuộc vào tùy thuộc cách thức mỗi người sống gắn kết với Chúa trong hiện tại. Những ai đã sẵn sàng thì được sống hiệp thông với Chúa, còn những người khác thì đã tự chọn điều ngược lại.
3. Đến bất ngờ như kẻ trộm
Hình ảnh thứ ba là hình ảnh kẻ trộm đến bất ngờ trong đêm. Chúa Giêsu không ví mình như tên trộm, nhưng Chúa dùng hình ảnh ấy để mời gọi mỗi người về thái độ sống “tỉnh thức”. Nếu người chủ biết trộm có thể đến thì chắc chắn sẽ tỉnh thức mà canh giữ. Cũng thế, người Kitô hữu biết chắc chắn Chúa sẽ đến vì Người đã hứa. Vì thế, mỗi người không thể sống trong sự thờ ơ, lãnh đạm và trì hoãn…nhưng phải sống ý thức và trách nhiệm trong từng phút giây hiện tại.
Vậy chúng ta phải sống “tỉnh thức” bằng cách nào?
Trước tiên, mỗi người “hãy đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (x. Is 2,4) nghĩa là thay vì những lời nói chỉ trích, tiêu cực, phàn nàn… làm tổn thương người khác thì mỗi người hay dùng những lời nói tích cực, quảng đại, khích lệ…để xây dựng và mang lại sự bình an cho nhau. Mỗi người hãy dùng lời nói và gương sáng của mình để dẫn mọi người đến gần với Đức Kitô hơn.
Thứ hai, mỗi người hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí sự sáng để chiến đấu (x. Rm 13,12) nghĩa là loại bỏ sự gian dối, bất công, tham lam…nhưng hãy sống công bằng, bác ái, thánh thiện… để chiến đấu chống lại những đam mê dục vọng.
Thứ ba, chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày: không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, không cãi cọ, ghen tương, đừng chiều theo tính xác thịt nhưng hãy mặc lấy Chúa Kitô (x. Rm 13,13-14), đó là một sự thay đổi tận căn, một sự hoán cải thực sự để cho cách suy nghĩ, cách hành xử và tâm tình của Chúa Giêsu thấm nhập vào con người của mình.
Trên hết, chúng ta hãy chu toàn công việc bổn phận bằng sự trung tín. Dù trong bất kỳ công việc nào: đi học, đi làm… hãy làm mọi việc nhỏ bé với một tình yêu lớn, làm với sự tận tâm như thể Chúa đang hiện diện ngay bên cạnh. Như thế, dù Chúa đến bất cứ lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng chờ đón Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, cây nến Hy Vọng đã được thắp lên, bóng đêm đang lui dần để nhường cho ánh sáng cứu độ của Chúa. Xin cho mỗi người chúng con không sống hờ hững như thời ông Nôê nhưng biết tỉnh thức để cởi bỏ tận căn con người cũ và mặc lấy con người mới là con người biết tin-yêu-hy vọng vào chính Chúa. Xin cho chúng con biết sống tỉnh thức trong từng công việc bổn phận hằng ngày với tất cả lòng yêu mến để ngày Chúa đến gõ cửa, chúng con sẵn sàng đáp trả “Lạy Chúa, con đây!”.
Maria Thảo An
Bước vào Mùa Vọng để bắt đầu một chu kỳ mới cử hành mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, chúng ta được phấn khích khi nghe lời ngôn sứ Isaia vừa báo trước về thời cứu độ, vừa giục giã: “Trong những ngày sau hết… Chúa sẽ qui tụ các dân tộc… Họ sẽ bảo nhau: ‘Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà Thiên Chúa của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người’”… (x. Is 2,1-5).
Và ‘đường lối của Chúa’, ‘ý định của Chúa’, đó là chúng ta “biến gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm, nên hái”, chúng ta sẽ “không còn vung kiếm đánh nhau, sẽ thôi học nghề chinh chiến”… Thật là một viễn cảnh đầy an ủi – bởi chúng ta và cả thế giới này đã mệt nhoài với chiến tranh xung đột không nguôi. Không chỉ là xung đột giữa các cộng đồng, các quốc gia, mà còn là xung đột giữa người này với người khác, đôi khi ngay trong một gia đình hay một nhóm nhỏ!
Chỉ có Chúa và đường lối của Ngài mới đem lại hoà giải và bình an vững bền. Vì thế, trong ngày của Chúa, hay trong thời cứu độ, người ta kéo nhau lên núi Chúa, tiến về nhà Chúa (x. Đáp ca, Tv 121). Không phải ngẫu nhiên mà tên gọi ‘Giêrusalem’ có nghĩa là ‘thành đô hoà bình’.
Nhưng ‘ngày của sự cứu độ’ hay ‘ngày của Con Người’ cũng là ngày bất ngờ và là ngày ấn định số phận của mỗi cá nhân. Hai đặc tính này được Chúa Giêsu nhấn mạnh trong bản văn Tin Mừng hôm nay (x. Mt 24,37-44). Bất ngờ, như thời Nôe mọi người bị bất ngờ trước cơn đại hồng thuỷ. Và số phận của người ta có thể rất khác nhau ngay cả khi họ rất gần gũi nhau: hai người đang ở ngoài đồng, hai người đang xay bột… thì một người được tiếp nhận, người kia bị bỏ rơi!
Như vậy, có thể thấy, ngay đầu Mùa Vọng, lời Chúa mở ra cho ta cả hai ngày, hai biến cố của Chúa Giêsu. Ngày Chúa đến lần thứ nhất trong tư cách Hoàng tử Bình An, và ngày Chúa đến trong chung cuộc như Đấng Xét Xử tối hậu. Nếu nhìn toàn bộ bức tranh rộng lớn, thì hai thời khắc đó có thể tổng hợp thành một biến cố duy nhất, đó là biến cố Chúa Giêsu Kitô. Như Karl Rahner nhận định rằng việc ‘Chúa đến lần thứ hai’ thực ra chỉ là diễn tiến của việc Chúa đến lần thứ nhất. Sự đáp trả của chúng ta trước ‘biến cố Chúa Giêsu’ được thánh Phaolô huấn dụ trong Thư gửi tín hữu Rôma:
“Đã tới lúc chúng ta phải thức dậy… Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Ðêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt”.
Cốt tuỷ của huấn dụ trên là “mặc lấy Chúa Giêsu Kitô”, nghĩa là hãy để cho Chúa Giêsu chiếm lấy mình, làm thấm đượm con người mình bằng tinh thần của Người. Đó là dự án sống Mùa Vọng của Năm Phụng vụ, cũng như sống mùa vọng cuộc đời, của mọi tín hữu.
Lm. Lê Công Đức