Suy Niệm Chúa Nhật V Mùa Chay, Năm A

“Hãy Ra Khỏi Mồ”

“Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.”

Người ta vẫn nói: “sinh ly tử biệt, xin hãy thương nhau khi còn có thể”. Vậy chúng ta thương mến ai, hay ai là người thương mến chúng ta? Câu trả lời có thể là người thân trong gia đình, bạn bè, xóm làng, đồng nghiệp, những người chúng ta gặp gỡ.

Mỗi người có một tính cách, một sở thích, một nền văn hóa khác nhau…và cùng bước đi với nhau trên một hành trình dương thế, mỗi người lại có hướng đi khác nhau. Thế nên, để hoà nhập vào cuộc sống sẽ có nhiều ngăn trở, khó khăn. Làm sao chúng ta có thể biến sự khác biệt thành mắt xích nối kết tình thân với nhau? Chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu, Ngài thương mến anh Lazaro không vì bất cứ điều kiện hay chuẩn mực nào, Ngài chấp nhận tất cả con người của anh. Ngài chỉ cần nơi anh “tình yêu thương chân thành”. Như thế, tình yêu chỉ hiện diện khi chúng ta đón nhận nhau với tất cả con người của họ, hãy chắp cho tình yêu một đôi cánh tự do, không ràng buộc cũng như không đặt điều kiện.

 “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết... Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.”

Chúng ta thấy xuất hiện một lời trách móc nhẹ nhàng của Mátta nhưng đủ để nói lên niềm xác tín của cô vào Chúa Giêsu. Mátta tin tưởng rằng nếu có Chúa hiện diện, em của cô sẽ không chết nghĩa là Chúa Giêsu là hiện thân của sự sống chứ không phải là sự chết.

Nếu niềm tin của Mátta chỉ dựa vào câu điều kiện “Nếu-thì”, có lẽ phép lạ sẽ không xảy ra, Lazarô sẽ không sống lại nhưng niềm tin của Mátta còn sâu sắc và mạnh mẽ hơn khi Chúa Giêsu hỏi “Chị có tin là Thầy làm được không?”, không chần chừ Mátta đã tuyên xưng đức tin của mình “Thưa Thầy con tin”. Nhờ niềm tin tưởng tuyệt đối vào Chúa, cô đã được chứng kiến phép lạ nhãn tiền mà Chúa đã làm trước mắt cô.

Khi đối diện với đau thương của cuộc sống, chúng ta thường có tâm trạng giống như Mátta: thất vọng, chán chường…chúng ta khó chấp nhận với thực tại. Chúng ta cũng luôn trông chờ một phép lạ sẽ đến để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ nhưng chúng ta quên mất rằng phép lạ chỉ xảy ra với những tâm hồn tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào kế hoạch yêu thương của Chúa.

Chúng ta hãy đặt câu hỏi: Đã bao lần tôi xin Chúa điều này hay điều kia nhưng tôi đã đủ kiên nhẫn chưa? Tôi có xin những điều đẹp ý Chúa không? Mỗi lần tôi xin thay vì lắng nghe tiếng Chúa, tôi lại đưa ra hết kiện này, điều kiện kia với Chúa và trái tim tôi có đủ nhạy bén để nhận ra những phép lạ nho nhỏ vẫn xảy đến trong cuộc sống thường ngày của tôi không?   

“Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!”

Chúa đã đánh thức và gọi anh Ladarô ra khỏi mồ. Ngôi mồ của sự chết, lạnh lẽo, cô đơn mà anh đang cư trú. Dường như Chúa cũng gọi tên từng người chúng ta ra khỏi “nấm mồ” tâm hồn mình: nơi đang chôn vùi chúng ta bởi tội lỗi, đam mê,… gây nên sự cô đơn, lẻ loi, khép lòng… Xin Chúa giúp chúng ta nghe được tiếng Chúa gọi ngang qua anh chị em và can đảm “ra khỏi mồ” để hoà nhập vào sự sống mới.

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn cảm nghiệm được tình yêu của Chúa. Xin ban cho chúng con trái tim biết yêu thương là hành trang mang theo trong cuộc đời. Nhờ đó, trên chuyến đi dòng đời, chúng con mang đến cho nhau niềm vui và bình an. Amen.

Maria Thanh Hằng


ĐTC Kêu Gọi Tái Thánh Hiến Nga Và Ucraina Cho Đức Mẹ

Vào cuối buổi tiếp kiến ​​chung ngày 22/03/2023, Đức Thánh Cha nhắc lại Hành động thánh hiến Nga và Ucraina cho Trái Tim vẹn sạch của Mẹ Maria vào ngày 25/3 năm ngoái (2022). Ngài mời gọi các cộng đồng tín hữu lập lại hành động long trọng này hàng năm vào ngày 25/3.

Hồng Thủy – Vatican News

Lập lại hành động thánh hiến

Cuối buổi tiếp kiến ngày 22/3/2023, Đức Thánh Cha nhắc đến ngày lễ Thiên Thần Truyền tin, ngày 25 tháng 3 năm ngoái, khi ngài cùng với tất cả các giám mục trên thế giới, thánh hiến Giáo hội và nhân loại, đặc biệt là nước Nga và Ucraina, cho trái tim vẹn sạch của Đức Mẹ.

Ngài nói tiếp: “Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi phó thác chính nghĩa hòa bình cho Nữ Vương Hòa Bình. Vì thế, tôi muốn mời gọi mỗi tín hữu và cộng đoàn, đặc biệt là các nhóm cầu nguyện, canh tân việc tận hiến cho Đức Mẹ vào ngày 25 tháng 3 hàng năm, để Mẹ là Mẹ gìn giữ tất cả chúng ta trong sự hiệp nhất và bình an.”

Và ngài nhắc các tín hữu đừng quên đất nước Ucraina đang bị tàn phá nặng nề, đang chịu nhiều đau khổ.

Ngày Thế giới về Nước

Đức Thánh Cha nói đến Ngày Thế giới về Nước, được cử hành ngày 22/3. Ngài nói: “Những lời của Thánh Phanxicô Assisi hiện lên trong tâm trí tôi: ‘Lạy Chúa, ngợi khen Chúa qua Chị Nước, vốn rất hữu ích, khiêm tốn, quý giá và trong sạch’. Bằng những từ đơn giản này, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của sự sáng tạo và nhận thức được những thách thức liên quan đến việc chăm sóc. Những ngày này, Hội nghị về Nước của Liên Hiệp quốc lần thứ hai đang diễn ra tại New York. Tôi cầu nguyện cho công việc được thành công và tôi hy vọng rằng sự kiện quan trọng này sẽ thúc đẩy các sáng kiến ​​ủng hộ những người đang phải chịu cảnh thiếu nước, cho lợi ích chính yếu này. Nước không thể bị lãng phí, lạm dụng hay là nguyên nhân của chiến tranh, mà phải được bảo tồn vì lợi ích của chúng ta và cho các thế hệ tương lai.”

Nguồn: Vatican news


Chốn Hẹn

Chào em, sau những bề bộn của cuộc sống chúng mình lại được gặp lại nhau vào mỗi mùa Chay Thánh. Nhờ mùa Hồng Phúc này mà chúng mình được nhìn thấy nhau, được trò chuyện với nhau để nhận ra nhau trong dòng chảy của cuộc sống.

Em ổn chứ? Tôi luôn tự đặt câu hỏi này trong mỗi ngày sống, và hôm nay gặp em tôi liền phải hỏi “Em ổn chứ?”. Câu hỏi nhỏ nhưng bao trùm mọi mong muốn được biết tất cả về em. Em mỉm cười nhìn tôi vì em hiểu tôi muốn hỏi điều gì. Em chậm rãi tâm sự mọi điều về em trong suốt thời gian qua cho tôi nghe.

Mùa Chay năm trước em cũng nhận được câu hỏi này và chị còn nhớ em đã khóc rất nhiều và than thở rằng “em không ổn chút nào, em đang đánh mất mình rồi”. Lúc đó em thấy mọi thứ dường như sụp đổ. Tất cả những gì em xây dựng trong suốt hành trình theo Chúa đều sụp đổ tan tành. Em đã tự tin nghĩ rằng mình đã có một cái nền vững chắc khi em đã được cảm nếm niềm hạnh phúc khi ở trên núi với Chúa. Em đã hạnh phúc biết dường nào khi nhận được hào quang Thiên Chúa tỏa rạng và em cũng tưởng mình đã được biến đổi.

Nhưng thực tế, khi em “xuống núi”, khi em bước vào môi trường phục vụ. Thời gian đầu em hăng say dấn thân biết bao, em nghĩ mình có thể làm mọi việc, có thể dễ dàng sống hòa hợp yêu thương hết tất cả mọi người em gặp gỡ. Thế nhưng chỉ một thời gian thôi em cảm thấy mình kiệt sức. Với áp lực công việc, mà nhìn lại thì chính áp lực muốn được thể hiện mình, muốn mình giỏi giang, muốn được mọi người chú ý, muốn mọi thứ hoàn hảo đã làm cho em kiệt sức. Em thấy mọi thứ không còn là màu hồng nữa. Em nhìn mọi người bằng ánh mắt nghi kỵ, thất vọng. Bởi em cho rằng mọi người không tốt như em nghĩ, em muốn mọi người phải theo ý mình mà không được. Em lao mình vào công việc của Chúa mà em cho là việc của mình. Chính vì vậy em chẳng còn tìm thấy Chúa ở đâu trong mỗi ngày sống. Giờ kinh nguyện của em đầy sự mệt mỏi và lo ra chia trí bởi công việc, bởi tương quan. Lúc đó em chẳng còn biết mình là ai nữa, em hoàn toàn thất vọng chán chường. Em trở nên bướng bỉnh, dễ bực bội khó chịu, em muốn buông xuôi mọi thứ, mặc kệ tất cả.

Đến khi em gặp lại chị trong mùa chay năm trước, em chia sẻ hết nỗi lòng mình với chị. Em đã xin chị giúp em tìm lại mình, nhất là giúp em tìm lại Chúa của em. Em đã có thời gian suốt mùa chay năm đó để cùng chị nhìn lại tất cả những gì đã qua và nhất là đi vào chính lòng em để em có thể tìm lại mình. Nhờ vậy, em đã trở về được với chính mình và hơn hết em đã trở về được với chính Chúa là nguồn bình an của đời em. Cùng Chúa nhìn lại chặng đường trước đó em thấy mình may mắn vì trải qua tất cả em lại thấy Chúa yêu em thật nhiều. Ngài đã đập tan mọi nền móng trần thế mà em đã xây dựng cho đời mình. Ngài cho em thấy em đã nhọc công xây nhà trên cát. Ngài giúp em xây lại ngôi nhà đời mình với nền móng vững chắc hơn đó chính là Lời Ngài, là tình yêu của Ngài dành cho em. Ngài cho em nhận ra mọi ngày đời em là để phụng sự và yêu mến Ngài chứ không phải đi tìm mình trong mọi sự.

Từ đó đến nay, gặp lại chị trong mùa chay này em có thể mỉm cười hạnh phúc như lúc này và có thể nói rằng “em vẫn ổn chị ạ, chị yên tâm nhé”. Em thấy mình được Chúa đồng hành qua mỗi ngày sống. Trở lại với công việc, đó là công việc của Chúa nên em không còn cảm thấy áp lực. Em tập nhìn mọi người bằng ánh mắt của Chúa nên em thấy lòng mình đầy sự cảm thông, tôn trọng, yêu thương mọi người. Em tập để cho Lời Chúa thấm đẫm vào con người em để khi gặp khó khăn thử thách em nhận ra Chúa đang bế em trên tay Ngài. Em để Ngài là trung tâm của cuộc đời mình, là đối tượng duy nhất của lòng trí. Em tìm kiếm Thánh Ý Chúa hơn là tìm mình trong mọi cảnh huống của đời sống dấn thân phục vụ. Em đã tìm lại được chính mình khi em tìm lại được Chúa. Hiện tại em thật an bình hạnh phúc và cố gắng để trở nên men muối và ánh sáng của Chúa…

Nhìn ngắm em hăng say kể cho tôi nghe về niềm an bình hạnh phúc của em tôi thầm tạ ơn Chúa cho em. Tạ ơn Chúa đã yêu em, tạ ơn Chúa đã chọn gọi em, tạ ơn Chúa đã cho em tìm lại được chính em trong Chúa. Tôi càng xác tín hơn em chỉ có thể hạnh phúc khi em có Chúa trong đời mình. Tôi cũng cảm nhận được niềm an bình hạnh phúc đó nơi em. Cho dù đường theo Chúa còn dài nhưng tôi tin rằng em đã có được một nền móng vững chắc. Cho dầu phong ba bão táp cũng không thể làm em sụp đổ lần nữa. Em sẽ luôn kiên vững, can đảm, cậy dựa hoàn toàn vào nơi Chúa của em. Tôi vui mừng cho em và cùng em nếm hưởng Hồng Phúc Chúa ban trong mùa chay Thánh này.

                   Têrêsa Thanh Tân


Khoá Học Thứ 33 Về Toà Trong Dành Cho Các Linh Mục Và Những Người Sắp Lãnh Nhận Thánh Chức

Khoá huấn luyện thứ 33 do Toà Ân giải Tối cao tổ chức cho các linh mục và những vị sắp lãnh nhận Chức Thánh đang diễn ra từ ngày 20 đến 24/3/2023 tại Roma. Trong số các chủ đề, khoá học trình bày về ơn tha tội và việc chăm sóc về chiều kích tâm lý và thiêng liêng. Sáng thứ Năm ngày 23/3/2023, các tham dự viên sẽ yết kiến Đức Thánh Cha.

Hồng Thủy – Vatican News

Khoá học được bắt đầu với bài chia sẻ của Đức ông Krzysztof Nykiel, Phó Tòa Ân giải, về năng quyền và hoạt động của “Toà Thương xót”. Các hoạt động của Toà Ân giải hướng đến sứ mạng cơ bản của Giáo hội là ơn cứu độ của các linh hồn.

“Toà án Ân Sủng và Lòng Thương Xót”

Đức ông Nykiel giải thích rằng cơ quan này không phải là nhà tù, nhưng là “Toà án Ân Sủng và Lòng Thương Xót”, phụ trách lãnh vực bên trong về mối tương quan giữa Thiên Chúa và tín hữu, cả trong bí tích và ngoài bí tích, tùy thuộc vào việc một người hành động trong bối cảnh của bí tích Giải tội hay trong khi linh hướng.

“Các trường hợp của lương tâm”

Nói về “các trường hợp của lương tâm”, theo Đức ông Nykiel, chúng gồm nhiều vấn đề khó xác định. Đồng thời ngài chỉ rõ rằng trong “Toà trong”, cả trong bối cảnh bí tích và không thuộc bí tích, Tòa ân giải cho phép giải vạ, miễn trừ, giảm hình phạt, ân xá và những ân huệ khác.

Năm tội được đề cập trong Bộ luật hiện hành

Đức ông Nikyel cũng trình bày nhiều tình huống khác nhau và đặc biệt mô tả năm tội được đề cập trong Bộ luật hiện hành: mạo phạm Mình Thánh Chúa; trực tiếp vi phạm ấn tín bí tích; ban bí tích giải tội cho người đồng phạm trong tội lỗi điều răn thứ sáu; tấn công thể lý Đức Giáo hoàng; thánh hiến một giám mục mà không có bổ nhiệm của Đức Giáo hoàng. Ngài cũng nói thêm về một tội khác mới được đưa vào giáo luật: thực hiện truyền chức thánh cho một phụ nữ.

Thái độ của các vị giải tội

Cuối cùng, Đức Ông Nykiel khuyến khích các vị giải tội, trong tòa giải tội hãy có thái độ, đã được Đức Thánh Cha Phanxicô nêu lên và nhiều lần tái khẳng định, giống như thái độ của Chúa: “không đe dọa, nhưng mời gọi một cách nhẹ nhàng và mang lại sự tin tưởng” để mời gọi một sự thay đổi cuộc sống.

Trong số các đề tài của ngày thứ hai của khoá học, ngày 21/3/2023, có đề tài: “Ơn tha tội: ở trung tâm của mầu nhiệm Cứu Chuộc” do Đức Hồng y Mauro Piacenza, Chánh Tòa Ân Giải, trình bày; trong khi đó, Cha Luca Ferrari, Thừa sai Lòng Thương xót, xác định đâu là lối tiếp cận thích hợp trong tòa giải tội.

Nguồn: Vatican news


ĐTC Gặp Gỡ Thành Viên Của Hiệp Hội Nghệ Sĩ Lưu Diễn Của Ý

Sáng thứ Hai ngày 20/3/2023, tiếp các thành viên của Hiệp hội các nghệ sĩ lưu động của Ý, Đức Thánh Cha cảm ơn họ đã nhắc rằng chúng ta không chỉ được dựng nên để làm việc mà còn để vui chơi, và Thiên Chúa rất vui khi chúng ta cùng nhau vui chơi như các anh chị em một cách đơn sơ. Ngài nói rằng họ giúp chúng ta có thể hít thở bầu không khí nhẹ nhàng thực sự ngoài trời, trái ngược với những gì xảy ra khi mọi người ở một mình với điện thoại di động hoặc máy tính.

Hồng Thủy – Vatican News

Hiệp hội các nghệ sĩ lưu diễn được thành lập vào năm 1947, đại diện cho các công ty thực hiện các hoạt động lưu diễn tại các công viên giải trí, đa số là các gánh xiếc.

Niềm vui xuất phát từ sự đơn giản

Nói về niềm vui các nghệ sĩ mang lại cho người dân, giúp họ có những khoảnh khắc nhẹ nhàng, giúp họ quên đi một chút những lo lắng ám ảnh cuộc sống hàng ngày, niềm vui bắt nguồn từ sự sáng tạo và trí tưởng tượng, được nuôi dưỡng bằng sự đơn giản và chân thực có thể được hít thở trong một công viên giải trí, Đức Thánh Cha nhận định: “Trong một thế giới thường có bầu không khí xám xịt và nặng nề, anh chị em nhắc nhở chúng tôi rằng cách để hạnh phúc là sự đơn giản; và cũng là một hình thức giải trí ngoài trời và với nhau: trái ngược với những gì chúng ta thấy ngày càng thường xuyên hơn ngày nay là mọi người chỉ có một mình với điện thoại di động hoặc máy tính của họ.”

Các nghệ sĩ tham gia loan báo Tin Mừng

Đức Thánh Cha khẳng định rằng các nghệ sĩ lưu diễn cũng tham gia vào việc loan báo Tin Mừng bằng niềm vui họ mang lại cho mọi người qua sự thu hút của họ. Ngài nói: “Anh chị em là người gieo niềm vui, đừng quên điều đó! Và đôi khi, anh chị em gieo niềm vui khi lòng không vui, buồn trước những vấn đề… Nhưng anh chị em gieo niềm vui, sứ mạng của anh chị em là gieo niềm vui.” Ngài khuyến khích họ “hãy luôn giữ cho trái tim và cuộc sống của mình cởi mở với một viễn ảnh đức tin, vốn nảy sinh từ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, hiện diện và hoạt động trong Giáo hội, trong mỗi người anh chị em, mỗi người anh chị em gặp, mỗi người anh chị em khiến họ cười. Thật là tuyệt vời khi là những người gieo rắc nụ cười!”

“Thiên Chúa ở bên anh chị em”. “Giáo hội đồng hành với anh chị em”.

Trong thời gian dịch bệnh, các nhóm lưu diễn không thể hoạt động. Đức Thánh Cha khẳng định với họ rằng “Chúa sẽ ở bên anh chị em, Người sẽ không rời bỏ hay bỏ rơi anh chị em; đừng sợ và đừng nản lòng!” (Đnl 31,8).

Và ngài cũng nhắc lại rằng Giáo hội tiếp tục đồng hành với các nhóm biểu diễn lưu động “bằng cách loan báo cho họ về Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế, Đấng đã đi qua các thị trấn và làng mạc để mang đến cho mọi người niềm vui loan báo về Nước Thiên Chúa.” (CSR_1159_2023)

Nguồn: Vatican news


Có Một Kiểu Người Sẽ Không Bao Giờ Già Đi

Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ mang trên mình những điều rất đặc biệt này.

1. Một tâm hồn chất phác ngây thơ.

Thật khó khi kinh qua trường đời mà vẫn giữ được một tâm hồn chất phác ngây thơ. Đó không phải là kiểu “hồn nhiên như cô tiên” mà là sau những cay đắng của cuộc đời vẫn tin tưởng vào điều tốt đẹp. Đó là một tâm hồn trong sáng, không đánh mất sự hồn nhiên hiếu kỳ đối với vạn vật. Người như vậy thường hạnh phúc và tươi trẻ.

2. Coi trọng dáng vẻ hàng ngày.

Ăn mặc tươm tất, chú trọng vẻ ngoài cũng là một điều quan trọng. Người già chúng ta không nên “tuổi chưa cao mà hồn đã lão”, tâm trí lúc nào cũng đặt trong cảnh tương lai mờ mịt, quá khứ u buồn, cảm thấy chăm chút bản thân là việc của giới trẻ.

Người trẻ tuổi có sự hấp dẫn tự nhiên nên không cần phải để tâm vào việc ăn mặc. Còn người có tuổi, bất luận ở nhà hay ra ngoài đều nên tùy thời phục sức, tao nhã đúng mức, mang lại niềm vui cho bản thân và mọi người. Khi bạn ăn mặc trang nhã, hiển lộ tinh thần sung mãn, thì tự nhiên cũng tự tin hơn, nhìn vào thấy trẻ ra cả chục tuổi.

3. Kiên trì đọc sách học tập, du lịch.

Những người nhìn vào trẻ trung phần lớn đều kiên trì với phương châm “không ngừng tinh tiến, không ngừng học hỏi”. Trong bụng đã có một bồ sách, một kho thi thư thì ắt tâm hồn phong phú, dung mạo phong lưu.

Đọc sách giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan, du lịch giúp mở mang tầm mắt. Người ham thích đọc sách và du lịch, đối với bất cứ sự việc gì đều tự có kiến giải, không phải kiểu người bảo sao hay vậy, tự nhiên thần thái ung dung, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân.

4. Tấm lòng lương thiện.

Những người nhìn vào trẻ trung, thường là thuần phác, thiện lương. Quá trình tu tâm dưỡng tính của họ thăng hoa thể hiện thành thần thái, tướng mạo bên ngoài. Cũng bởi tướng tùy tâm sinh, nên người có tâm từ bi, có lòng nhân ái, luôn luôn phát ra một loại hào quang. Với người khoan dung, hơn nửa gương mặt là có phúc tướng. Với người mà tính tình dịu dàng thì tướng mặt đã toát lên sự thân thiện.

5. Có mục tiêu theo đuổi.

Người mà nhìn vào trẻ trung sẽ luôn trong trạng thái tinh thần phấn chấn và tràn trề sức sống. Dù là đã nghỉ hưu rồi, trong cuộc sống nên đặt những mục tiêu mới. Trong phạm vi mà khả năng cho phép, hãy tích cực tham gia các loại hoạt động như ca hát, chụp ảnh, khiêu vũ… Như vậy, cuộc sống bày ra trước mắt bạn sẽ có sức sống hơn, cũng sẽ khiến bạn không bao giờ thấy mình già đi vậy.

6. Biết cảm mến cuộc đời.

Đam mê cuộc sống vẫn chưa đủ, nếu như có thể có chút lòng cảm mến với nó thì sẽ hoàn mỹ hơn. Không hưởng thụ những ưu việt mà đồng tiền mang lại, nguyện ý bỏ tâm tư trồng mấy chậu cây cảnh hay bắt tay chế tác mấy món đồ chơi, có những đam mê sở thích khác. Người như vậy, thời gian làm sao nhẫn tâm để bạn già đi đây?

7. Kiên trì vận động.

Thân thể khỏe mạnh mới là nền tảng duy trì sự trẻ trung. Người mà trông không có vẻ già đi nhất định đều kiên trì vận động, khiến bản thân từ trong đến ngoài đều tỏa ra sức sống.

8. Tâm thái trẻ trung.

Người có tâm thái trẻ trung sẽ tích cực trải nghiệm những điều mới mẻ, luôn hiếu kỳ khám phá những điều mới lạ. Trên người họ, bạn có lẽ cũng có thể nhìn thấy nếp nhăn nơi khóe mắt chân mày. Nhưng điều khiến bạn nhìn không chớp mắt là gương mặt với thần thái ung dung và tâm trạng yêu đời của họ.

Nhà văn Murakami Haruki đã từng nói: “Con người ta không phải là dần dần trở nên già đi, mà là trở nên già đi chỉ trong nháy mắt“. Con người trở nên già đi, không phải bắt đầu từ nếp nhăn đầu tiên, hay cọng tóc bạc đầu tiên, mà là bắt đầu từ ngay cái thời khắc buông bỏ chính mình. Chỉ có những ai không từ bỏ chính mình, mới có thể sống thành người không sợ già, và cũng sẽ không thấy mình già đi.

Nguồn: Sưu tầm trong sách “Trưởng Thành Đôi Khi Cũng Khóc”


Kinh Truyền Tin 19/03: Cần Ngạc Nhiên Và Thay Đổi Cách Nhìn

Trưa Chúa Nhật 19/3, Đức Thánh Cha đã cùng đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Trong bài huấn dụ trước khi đọc Kinh, Đức Thánh Cha chia sẻ về bài Tin Mừng Chúa Nhật IV Mùa Chay về việc Chúa Giêsu chữa lành cho người mù từ lúc mới sinh.

Vatican News Tiếng Việt

Bài huấn dụ của ĐTC trước khi đọc Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay Tin Mừng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu phục hồi thị giác cho một người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,1-41). Nhưng điều kỳ diệu này không được nhiều người và nhiều nhóm đón nhận. Chúng ta cùng xem cách cụ thể.

Nhưng trước tiên, tôi muốn nói với anh chị em: hôm nay, hãy lấy Phúc Âm theo Thánh Gioan và anh chị em đọc phép lạ này của Chúa Giêsu. Cách kể của Thánh Gioan thật hay. Chương 9, chỉ mất hai phút để đọc. Thánh Gioan cho thấy cách Chúa Giêsu hành xử và cách trái tim con người hành xử: trái tim con người tốt lành, trái tim con người lạnh nhạt, trái tim con người sợ hãi, trái tim con người can đảm. Chương 9 của Tin Mừng Gioan, hãy đọc ngay hôm nay, nó sẽ giúp ích cho anh chị em rất nhiều. Và con người chào đón dấu hiệu này như thế nào?

Trước hết là các môn đệ của Chúa Giêsu, những người khi đối diện với người mù bẩm sinh đã tự hỏi liệu có phải là lỗi của cha mẹ anh hay của chính anh (x. câu 2). Họ đang tìm kiếm thủ phạm và cả chúng ta cũng vậy; người ta dễ chịu khi đi tìm kiếm thủ phạm, thay vì đặt ra những câu hỏi mang tính dấn thân trong cuộc sống. Như hôm nay chúng ta có thể nói: sự hiện diện của người này có ý nghĩa gì đối với chúng ta, anh ấy yêu cầu chúng ta điều gì? Rồi sau việc chữa lành, các phản ứng càng tăng thêm. Đầu tiên là của những người láng giềng, họ hoài nghi: “Người này xưa giờ bị mù: không thể nào bây giờ lại thấy được, không thể nào là anh được, có lẽ là người khác. Người ta hoài nghi!” (xem cc. 8-9). Đối với họ, điều đó là không thể chấp nhận được, thà để mọi thứ như cũ (x. câu 16) và không xem đó là vấn đề. Họ sợ hãi, sợ hãi giới chức tôn giáo và không dám nói ra (x. cc. 18-21). Trong tất cả những phản ứng này, xuất hiện những trái tim đóng lại trước dấu chỉ của Chúa Giêsu, vì những lý do khác nhau: vì họ đang tìm kiếm thủ phạm, vì họ không biết cách ngạc nhiên, vì họ không muốn thay đổi, vì họ kẹt trong nỗi sợ hãi. Và ngày nay cũng xảy ra nhiều tình huống tương tự. Khi đối diện với một điều gì đó là sứ điệp chứng tá của một người, là sứ điệp của Chúa Giêsu, chúng ta rơi vào tình trạng này: chúng ta tìm kiếm một lời giải thích khác, chúng ta không muốn thay đổi, chúng ta tìm kiếm một lối thoát nhẹ nhàng hơn là chấp nhận sự thật.

Người duy nhất phản ứng tốt là anh mù: anh vui mừng vì được thấy, anh làm chứng về điều đã xảy ra với mình một cách đơn giản nhất: “Trước đây tôi mù mà nay tôi thấy được” (c. 25). Anh nói sự thật. Trước đây, anh phải đi ăn xin và chịu đựng những định kiến ​​của người đời: “anh nghèo lại mù từ lúc mới sinh, anh đã đau khổ, phải đền tội cho mình hay cho tổ tiên”. Giờ đây, được tự do về thể xác và cả tinh thần, anh ta làm chứng cho Chúa Giêsu: anh ta không bịa ra điều gì và không giấu giếm điều gì. Anh ta không sợ những gì người khác sẽ nói: anh đã nếm được vị cay đắng của việc bị gạt ra bên lề trong suốt cuộc đời mình, anh đã cảm nhận được sự thờ ơ và khinh miệt của những người qua đường, của những người coi anh là đồ phế thải của xã hội, cùng lắm là có ích cho lòng thương cảm bố thí. Giờ đây, được lành bệnh, anh không còn sợ những thái độ khinh miệt đó nữa, vì Chúa Giêsu đã cho anh đầy đủ phẩm giá. Đây là điều rõ ràng, luôn là như vậy: Khi Chúa Giêsu chữa lành chúng ta, Chúa ban lại phẩm giá cho chúng ta, phẩm giá xuất phát từ sâu thẳm trái tim của Chúa Giêsu. Trong ngày Sabát, trước mặt mọi người, Người đã trả tự do cho anh và cho anh được sáng mắt mà không yêu cầu anh bất cứ điều gì, thậm chí cả lời cảm ơn. Anh mù đã làm chứng về điều đó. Đây là phẩm giá của một con người cao quý, của một người biết mình được chữa lành và khỏi bệnh, được tái sinh.

Anh chị em thân mến, với tất cả những nhân vật này, bài Tin Mừng hôm nay cũng đặt chúng ta vào giữa khung cảnh này, để chúng ta tự hỏi: chúng ta đứng ở đâu, chúng ta sẽ nói gì khi đó? Và trên hết, hôm nay chúng ta đang làm gì? Giống như người mù, chúng ta có thể nhìn thấy điều tốt và biết ơn những món quà chúng ta nhận được không? Chúng ta làm chứng cho Chúa Giêsu hay gieo rắc sự chỉ trích và nghi ngờ? Chúng ta có tự do khi đối diện với những định kiến ​​hay chúng ta hùa theo những người gieo rắc tiêu cực và ngồi lê đôi mách? Liệu chúng ta có vui mừng nói rằng Chúa Giê-su yêu thương và cứu rỗi chúng ta, hay giống như cha mẹ của người mù bẩm sinh, chúng ta để mình bị nhốt trong lồng sợ hãi về những gì người ta sẽ nghĩ? Và một lần nữa, chúng ta đón nhận những khó khăn và đau khổ của người khác như thế nào? Xem họ như những lời nguyền hay như những dịp để gần gũi họ bằng tình yêu thương?

Chúng ta hãy xin ơn biết ngạc nhiên trước những quà tặng của Thiên Chúa mỗi ngày và nhìn thấy những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống, ngay cả những hoàn cảnh khó chấp nhận nhất, như những cơ hội để làm điều thiện, như Chúa Giêsu đã làm với người mù. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta trong việc này, cùng với Thánh Giuse, một người công chính và trung tín.

Nguồn: Vatican news


ĐTC Gặp Gỡ Các Gia Đình Tị Nạn Đến Châu Âu Qua Các Hành Lang Nhân Đạo

Trưa thứ Bảy 18/3/2023, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ khoảng 5.000 người tị nạn và gia đình của họ, những người đã đến Ý, Pháp, Bỉ và Andorra thông qua sáng kiến các hành lang nhân đạo được thực hiện bởi Cộng đồng Thánh Egidio, Liên đoàn các Giáo hội Tin lành và Giáo hội Van-đê, Giáo hội Công giáo ở Ý, đặc biệt là Caritas, và mạng lưới tiếp đón của tổ chức này, và sự dấn thân của chính phủ Ý và các chính phủ khác.

Hồng Thủy – Vatican News

Các hành lang nhân đạo được thành lập vào năm 2016 khi những người vượt biên vào châu Âu bằng đường biển bị chết ở Địa Trung Hải ngày càng gia tăng.

Các hành lang nhân đạo phá bỏ những bức tường thờ ơ 

Đức Thánh Cha nói rằng sáng kiến này, “không chỉ đúng lúc nhất mà còn cần thiết hơn bao giờ hết.” Ngài nhận định: “Các hành lang nhân đạo xây dựng những cây cầu… những hành lang xuyên biên giới và quan trọng hơn là phá bỏ những bức tường thờ ơ đã làm tiêu tan hy vọng của biết bao người đã chờ đợi hàng năm trời trong những hoàn cảnh đau đớn và không thể chịu nổi.” “Hành lang nhân đạo là một cách khả thi để tránh những bi kịch và nguy hiểm liên quan đến nạn buôn người. Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nỗ lực để mở rộng công việc này và mở ra nhiều con đường di cư hợp pháp hơn nữa… “

Chỉ ra một con đường phía trước cho châu Âu

Về công việc của các cộng đoàn và tổ chức đón nhận người di dân, xác định và chào đón những người dễ bị tổn thương để tìm cách đáp ứng một cách thích hợp nhất với dấu hiệu của thời đại, Đức Thánh Cha nói rằng “nó chỉ ra một con đường phía trước cho châu Âu, để tránh tình trạng đóng băng, sợ hãi và thiếu tầm nhìn cho tương lai.”

Đồng hành giúp hội nhập

Về công việc khó khăn khi hội nhập những người di dân, Đức Thánh Cha nói rằng “phải dành nhiều sự chú ý và sáng tạo hơn nữa trong việc tạo điều kiện cho những người được trao cơ hội đến châu Âu hiểu và đánh giá cao những gì họ sẽ gặp ở đây. Chúng ta đừng quên rằng mọi người cần được đồng hành liên tục, từ đầu đến cuối. Vai trò của các bạn chỉ kết thúc khi một người thực sự hòa nhập vào xã hội của chúng ta.”

Đại diện cho một khuôn mặt xinh đẹp của châu Âu

Tiếp đến, Đức Thánh Cha khen ngợi và cảm ơn các cá nhân, gia đình và cộng đồng đã sẵn sàng thực hiện công việc đón tiếp cách hết sức quảng đại, khi mở rộng trái tim và ngôi nhà của họ. Ngài nói: “Các bạn đại diện cho một khuôn mặt xinh đẹp của châu Âu, một khuôn mặt cởi mở, không phải không có một số hy sinh, cho tương lai.”

Những người trung gian của lịch sử hội nhập

Đức Thánh Cha gọi những người đề xướng các hành lang nhân đạo “là những người trung gian của lịch sử hội nhập, chứ không phải là những trung gian kiếm lợi từ nhu cầu và đau khổ của người khác. Bạn không phải là trung gian mà là người hòa giải, và bạn cho thấy rằng, một khi nỗ lực nghiêm túc được thực hiện để đặt nền móng, bạn có thể chào đón và hội nhập những người khác một cách hiệu quả.”

Luôn tìm kiếm hoà bình

Với những người tị nạn Ucraina, Đức Thánh Cha nói rằng ngài “không từ bỏ việc tìm kiếm hòa bình, hy vọng hòa bình và cầu nguyện cho hòa bình.”

 Gương tốt và sự siêng năng của những người tị nạn xua tan sự e dè đối với người nhập cư

Cuối cùng, Đức Thánh Cha nói rằng tấm gương tốt và sự siêng năng của những người tị nạn giúp xua tan nỗi sợ hãi và e ngại về người nước ngoài. Ngài nói: “Sự hiện diện của các bạn có thể là một điều may mắn cho các quốc gia nơi bạn sinh sống cũng như luật pháp và văn hóa của những quốc gia mà bạn đã học cách tôn trọng.” Ngài cũng khen ngợi một số người trong họ đáp lại lòng hiếu khách đã nhận được bằng cách sẵn sàng phục vụ những người khác đang gặp khó khăn. (CSR_1144_2023)

Nguồn: Vatican news


Các Bài Suy Niệm Về Thánh Giuse

  1. THÁNH GIUSE – ĐẤNG CÔNG CHÍNH

Thánh Giuse đóng vai trò rất quan trọng chương trình cứu độ của Thiên Chúa nhưng Ngài lại được viết rất ít trong các bản văn Tin mừng. Chúng ta biết rằng thánh Giuse là một người thợ mộc đơn sơ (x. Mt 13,55), thuộc chi tộc Đavít đã đính hôn với Đức Maria (x. Mt 1,18; Lc 1,27). Ngài được nhắc đến sự kiện Đức Maria mang thai trước khi hai ông bà về chung sống, Ngài đang toan tính bỏ đi cách kín đáo, thì được sứ thần hiện ra báo tin. Ngài được chứng kiến ​​Đấng Mêsia sinh ra trong chuồng bò, vì “không có chỗ cho họ” trong quán trọ (x. Lc 2,7). Ngài đã chứng kiến các mục đồng (x. Lc 2,8-20) và các đạo sĩ (x. Mt 2, 1-12) đến thờ lạy Chúa. Ngài chu toàn lề luật trong việc dâng Chúa Giêsu vào trong Đền thờ (x. Lc 2,22) và khi Chúa Giêsu được 12 tuổi, Ngài được nhắc đến khi cả gia đình lên Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua (x.Mt 41-50). Ngài được sứ thần hiện ra trong giấc mơ đem Mẹ Maria và Hài Nhi trốn sang Ai cập, vì Hêrôđê sắp tìm bắt Hài Nhi (x. Mt 2,13-14) và cuộc trở về từ Ai cập đến thành Nazareth (x.Mt 2, 19-23).

Từ những sự kiên trên, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm con người của Ngài mang nhiều phẩm chất tốt đẹp trước mặt Thiên Chúa, và một trong những phẩm chất ấy được Thánh sử Mattheu viết 1,19 : “Ngài là Đấng Công Chính”, đã diễn tả toàn vẹn con người của Ngài. Cụm từ này được nhắc rất nhiều trong Kinh thánh với nhiều ý nghĩa khác nhau, hàm ý nói tới con người luôn trung tín với Thiên Chúa, sống theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, nghĩa là tấm gương sáng về mặt tuân giữ lề luật và thi hành các việc tế tự:Chúng ta sẽ là người công chính, nếu chúng ta lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh này trước nhan Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, như Người đã truyền cho chúng ta” (Đnl 6,25). Thánh Giuse trong vai trò là Cha nuôi Đức Giêsu, Ngài luôn làm đúng theo luật Chúa truyền như việc đặt tên cho con trẻ sau 8 ngày (x.Lc 2,21) và tiến dâng con trẻ cho Đức Chúa sau 40 ngày (x. Lc 2,22).

Trong sác Gióp 17,9 viết: Người công chính luôn giữ đường lối của mình, kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được thêm sức mạnh”. Điều này, muốn nói lên rằng ông Gióp đứng trước đau khổ đến với gia đình, ông đầy tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ đến giải thoát gia đình ông vì ông tin vào sự công chính và trong sạch của mình. Từ đó, cho thấy hình ảnh Thánh Giuse, đứng trước sự kiện Đức Maria mang thai, nhờ đường lối công chính của Ngài, mà Thánh Giuse đã không tố cáo Đức Maria, nhưng chọn âm thầm bỏ đi (Mt 1,19b). Ngài đã không nghĩ cho bản thân, nhưng đã chọn giải pháp cho sự an toàn của Đức Maria.

Đoạn khác trong Kinh thánh diễn tả hình ảnh người công chính: “Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay Chúa, Người sẽ đỡ đần cho, chẳng để người công chính phải nghiêng ngửa bao giờ” (Tv 55,23). Thánh vịnh này diễn tả người công chính luôn phó thác mọi sự trong tay Chúa, chính Người sẽ đỡ đần cho. Qua đó, cho ta thấy được con người Thánh Cả Giuse, Ngài đã sống một cuộc đời đầy tin tưởng và phó thác cho Thiên Chúa. Do đó, Ngài đã sẵn sàng bước vào trong kế hoặch cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Khi Thánh Giuse được sứ thần báo tin “đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang do quyền năng Chúa Thánh Thần”, lập tức Thánh Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà (x.Mt 2,20-24). Đây là thái độ của người phó thác mọi sự trong tay Chúa, chắc chắn khi nghe tin Đức Maria mang thai, trước khi hai ông bà về chung sống, Thánh Giuse đã phải suy nghĩ rất nhiều. Có lẽ, bao nhiêu dự định ước mơ cho một gia đình giờ đây đã không còn, Thánh Giuse với bản chất là người công chính, ông đã sẵn sàng từ bỏ mọi ước mơ của bản thân, trút nhẹ mọi mọi gánh nặng vào tay Chúa, để bước vào trong kế hoặch của Thiên Chúa có vẻ như rất khó hiểu. Trong từng biến cố đến với Đức Giêsu thời thơ ấu, Thánh Giuse chu toàn bổn phận của người Cha nuôi thầm lặng trong sự phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa.

Một chi tiết khác mà Thánh vịnh 146,8 diễn tả nét đặc biệt về người công chính: “Đức Chúa yêu chuộng những người công chính”. Điều này cho ta thấy rõ hơn, Thánh Giuse là Người công chính nên được Đức Chúa yêu mến tuyển chọn làm Cha nuôi Chúa Giêsu, cộng tác vào trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Và hơn thế nữa Tv119,137 diễn tả: “Đức Chúa là Đấng Công Chính”, hàm ý người công chính là được tham dự vào sự công chính của Thiên Chúa, và làm sáng tỏ đức công chính của Người (x. Is 42,6). Qua thật, trong suốt cuộc đời trần thế của Thánh Giuse, đã làm sáng lên sự công chính của Thiên Chúa qua việc Ngài đã chứng kiến từng ngày sự lớn lên của Chúa Giêsu  đầy khôn ngoan, thêm vững mạnh và hằng ân nghĩa cùng Thiên Chúa (x. Lc 2,40). Nơi Thánh Giuse, Chúa Giêsu đã nhìn thấy sự công chính của Thiên Chúa, nên trong cuộc đời rao giảng Tin Mừng Chúa Giêsu đã nhắc đến Thiên Chúa là Đấng Công Chính: “Lạy Cha là Đấng Công Chính” (Ga 17,25).

Như vậy, mỗi người chúng ta được mời gọi bắt chước Thánh Cả Giuse về sự công chính của Ngài, bằng thái độ tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa trong đời sống thường nhật. Cuộc sống hôm nay nhiều vất vả lo toan, phận người trong cõi nhân sinh với nhiều cơn cám dỗ vây bủa xung quanh làm cho chúng ta xa cách Thiên Chúa. Chúng ta hãy điểm tô cuộc đời bằng sự công chính của Thánh Giuse, nhờ đó chúng ta được Đức Chúa yêu mến và được mời gọi tháp nhập vào sự Công Chính của Thiên Chúa. Nhất là trong tháng 3 này, chúng ta được mời gọi “hãy đến với Thánh Cả Giuse”, để Ngài giúp chúng ta sống mối tương quan thân tình với Thiên Chúa trong đời sống thường ngày bằng tất cả sự tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Hãy để cho sự dịu dàng của Đức Chúa đụng chạm vào cõi thâm sâu trong cõi lòng, nhờ đó sự công chính của Đức Chúa được tỏa sáng trong cuộc sống mỗi ngày của chúng ta.

Maria Phạm Trang

2. THÁNH GIUSE BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA

Lần mở các trang Tin Mừng, dù có vỏn vẹn đôi lời nói về thánh Giuse nhưng chỉ cần bấy nhiêu ấy cũng đủ để cho thấy ngài là một người Do Thái ngoan đạo, một chàng thợ mộc hiền lành, quảng đại, một con người bình thường chỉ mong có một gia đình êm ấm như bao thanh niên thời bấy giờ. Tuy nhiên, ngài đã đón nhận tất cả những biến cố mà Thiên Chúa gửi trao. Đón nhận đồng nghĩa với việc ngài phải uốn đời mình theo thánh ý Chúa: ngài chấp nhận sống khiết tịnh như một người bạn bên cạnh người mà ngài yêu thương và muốn lấy làm vợ là Đức Maria.

1. Thánh Giuse là người có đức tin lớn lao

Đức tin của thánh Giuse tuy mạnh mẽ nhưng vẫn là một đức tin không phải không gặp những thử thách gian truân. Cuộc đời của ngài luôn bị vây bọc bởi các mầu nhiệm. Tuy bề ngoài, Thánh Gia là một gia đình bình thường như bao gia đình khác nhưng ẩn tàng bên trong, thánh Giuse cảm nghiệm mình đang sống trong một mầu nhiệm thần linh, ngày ngày chìm ngập trong thế giới mà không sao hiểu hết được. Dù được Thiên Chúa tuyển chọn nhưng Thánh Gia cũng không được miễn trừ khỏi những sóng gió, sợ hãi, lo âu và vất vả. Trẻ nhỏ Giêsu vẫn lớn lên cách bình thường trước mắt thánh Giuse, còn Đức Maria vẫn là người bạn được thánh Giuse hết lòng yêu thương kính trọng, cả gia đình ai nấy vẫn chu toàn bổn phận một cách bình thường. Nhưng chính trong đời sống âm thầm bình dị ấy, thánh Giuse vẫn khám phá ra nơi đó nhiều điều phi thường đang diễn ra.

Quả thật, tin là một hành trình tìm kiếm luôn luôn, là chấp nhận thánh ý Thiên Chúa dù cho nó được xem là nghịch lí dưới con mắt người đời.

2. Thánh Giuse là một người đã thánh hiến đời mình cho sứ mạng của Thiên Chúa

Trong dòng lịch sử cứu độ, thánh Giuse được Thiên Chúa tuyển chọn như người trực tiếp đón lấy Đấng Mêsia. Sự tuyển chọn này vừa là hồng ân vừa là sứ mệnh. Nhớ khi xưa, các ngôn sứ gặp khó khăn vẫn có thể than van, thoái thác, ngay cả bỏ trốn…; Còn thánh Giuse, ngài tuyệt đối chu toàn nhiệm vụ Chúa trao cách phó thác, âm thầm, trọn vẹn và chưa một lần hỏi tại sao. Không phải thinh lặng nghĩa là ngài vâng phục cách thụ động, thánh Giuse đã thưa hai tiếng “xin vâng” bằng chính hành động của ngài. Ngay khi nhận ra thánh ý Chúa, thánh Giuse đã gạt bỏ những ý riêng của mình, để đón nhận những biến cố không thể tỏ tường, ngài đón lấy và chịu trách nhiệm, biến chúng thành lịch sử của chính ngài. Ngài đưa Maria về làm vợ và can đảm nhận trách nhiệm làm cha nuôi của Chúa Giêsu, đặt tên cho Hài Nhi như lời Thiên Thần truyền. Đối với quan niệm xưa, khi đặt tên cho một người tức là đón nhận người đó thuộc về mình. Vì thế, ngài lúc nào cũng thấy mình có trách nhiệm gìn giữ Hài Nhi và Mẹ Maria. Ngài đứng mũi chịu sào trong mọi sự, chấp nhận rủi ro, liều cả tính mạng để bảo vệ Đức Giêsu và Mẹ Người.

Quả thật, nơi thánh Giuse, chúng ta xác tín rằng, những dự định của Thiên Chúa luôn được thực hiện bất chấp sự yếu đuối của phàm nhân. Làm sao ta có thể chu toàn sứ mệnh của Thiên Chúa nếu ta vẫn còn than van về hoàn cảnh của mình? Làm sao có thể trung tín với Người, nếu như ta chỉ vâng phục khi mọi sự xảy đến theo đúng ý mình?

3. Thánh Giuse – bạn trăm năm của Đức Maria và cha nuôi của Đức Giê-su

Khi nhận lời sứ thần truyền, thánh Giuse đã chấp nhận đón Đức Maria về một cách vô điều kiện, ngài tin những lời thiên thần nói. Ngài ý thức Đức Maria chính là hiện thân của một mầu nhiệm khiến thánh Giuse phải kính ngưỡng: Đức Maria là người được Thiên Chúa yêu thương và ưu tuyển, là nơi diễn ra mầu nhiệm cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa, người nữ ấy thuộc về Chúa cả xác lẫn hồn. Đứng trước một mầu nhiệm khôn thấu ấy, thánh Giuse chỉ có thể đáp lại bằng cách sống một mầu nhiệm khác: giữ khiết tịnh trọn đời. Vì đối với thánh Giuse, khi được kêu gọi để thuộc trọn về Thiên Chúa và làm bạn trăm năm với Mẹ Rất Thánh, cả hai sẽ cùng nhau cộng tác vào chương trình kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Đó là niềm hạnh phúc, vinh dự lớn nhất cho cuộc đời của ngài, bởi đó, ngài không còn gì phải so tính thiệt hơn cho bản thân mình.

Thánh Giuse còn đảm nhận và chu toàn một trọng trách trong lịch sử cứu độ bằng một cuộc đời làm cha âm thầm, bên mầu nhiệm cao cả là Đức Giêsu Kitô, hay nói một cách thi vị rằng cuộc đời của thánh Giuse được ẩn khuất trong ánh sáng của Mặt Trời Công Chính. Điều đó có thể thấy rõ trong những bức họa vẽ thánh Giuse cùng Chúa Giêsu, các bức họa đều thấy một điểm chung là ánh mắt yêu thương của hiền phụ Giuse luôn âu yếm nhìn Đức Giêsu dù khi làm mộc hay lúc đi đường… Như trong Tông thư “Trái tim người cha”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã long trọng nêu ra chân lý, một chân lý vừa đời thường, nhưng vừa mới mẻ và đánh động lòng người: “Chính với trái tim của người cha, thánh Giuse đã yêu thương Đức Giê-su”. Đấng Cứu Thế cũng được yêu thương với trọn cả con tim, bởi một người cha ở dưới đất. Nơi thánh Giuse, một người cha dịu dàng và yêu thương, Chúa Giêsu thấy được tình yêu thương dịu dàng của Thiên Chúa. Sự dịu hiền của thánh nhân đến từ Thiên Chúa và mặc khải sự dịu hiền của Thiên Chúa. Và chính qua thánh Giuse, Đức Giêsu cũng học từ nơi ngài sự hiền lành và khiêm nhường trong lòng, một tình mến không vị kỷ, không huênh hoang, không nóng nảy. 

Cũng trong cuộc sống thường ngày của gia đình Nazareth, tình yêu còn được diễn tả qua lao động hằng ngày. Tại bàn làm việc nơi thánh Giuse lao tác với Chúa Giêsu, ngài đã mang công việc của con người đến gần hơn với mầu nhiệm Cứu Chuộc. Đấng Emmanuel học tập và làm việc cùng với một người cha thợ mộc và với Mẹ Maria, sự hòa quyện giữa cầu nguyện và làm việc, giữa thiêng liêng và thực tế hằng ngày, nghĩa là những công việc bình thường đều được thánh hóa bằng một tình yêu phi thường. Là người nữ tu Mến Thánh Giá vừa chiêm niệm vừa hoạt động, chúng ta được mời gọi hãy làm cho những công việc, những hành động bình thường, nhỏ bé của mình trở nên có ý nghĩa khi được kết hợp với những tâm tình chuyển cầu cho Giáo Hội, cho xã hội, cho những tín hữu đang sống xa lìa Thiên Chúa.

Lạy thánh Giuse, sống sứ mạng chuyển cầu của người nữ tu MTG, mỗi chị em chúng con cũng mang trong mình những thao thức của tha nhân. Xin Ngài cũng thương nhìn đến và xoa dịu những nỗi niềm của bao người đang cậy nhờ chúng con cầu nguyện. Amen.

Têrêsa Kim Yến

3. GIUSE – NGƯỜI CHA VĨ ĐẠI

Điều gì khiến thánh Giuse trở nên vĩ đại? Chúng ta thấy, thánh Giuse không được thụ thai vô nhiễm nguyên tội giống Mẹ Maria, ngài bình thường như bao nhiêu người cha khác, trụ cột cho gia đình Thánh Gia. Tuy nhiên, ngài trở nên vĩ đại bởi những chọn lựa ngài thực hiện trong suốt cuộc sống. Tin Mừng Matthêu nhắc đến thánh Giuse là một người công chính, là người “làm như lời sứ thần truyền” (Mt 1,24). Vì vậy, có thể nói sự vĩ đại của thánh Giuse bắt nguồn từ hình tượng của một con người công chính, luôn vâng theo ý định của Thiên Chúa.

Lòng tin của thánh Giuse đặc biệt được ghi lại qua bốn giấc mơ. Trong giấc mơ đầu tiên, ngài được truyền “đừng ngại đón Maria vợ ông về” (Mt 1,20-21). Trong giấc mơ thứ hai, thánh Giuse được nhắn nhủ “dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mt 2,13). Giấc mơ thứ ba, ngài được báo mộng “dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Israel” (Mt 2,20) và giấc mơ thứ tư, ngài được truyền “lui về miền Gallilê” (Mt 2,22).

Có lẽ nhiều người trong chúng ta không khỏi thắc mắc: tại sao thánh Giuse lại quá đỗi tin tưởng vào những giấc mơ? Chỉ có thể lý giải là thánh Giuse, một con người có niềm tin đặc biệt vào Thiên Chúa. Chúng ta cũng có những giấc mơ, nhưng giấc mơ của thánh Giuse khác hẳn. Những giấc mơ này cho thấy sự nối kết không nghi ngờ giữa ngài với Thiên Chúa. Thánh Giuse đã lắng nghe lời Thiên Chúa và thực hành một cách tuyệt đối, trở thành một con người cởi mở trong niềm tin và chương trình của Người.

Qua những giấc mơ, thánh Giuse hiểu rằng, tiếng Chúa nói là tiếng vượt trên tất cả những nỗ lực lí giải của con người và nó phải được đáp lại bằng một lời đáp trả trung thành và quảng đại. Những lệnh truyền mà thánh Giuse nhận được quả thật đã không trở nên vô hiệu, cho dẫu ngài biết những hệ lụy của sự niềm tin này là cả một cuộc phiêu lưu trên đất khách và sẽ tiếp tục trải dài trên quãng đời còn lại. Chúng ta cũng thấy thánh Giuse đã đáp lời mời gọi của Thiên Chúa một cách nghiêm túc, bằng cả lí trí và ý chí của ngài. Vì thế, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong cho ngài tước hiệu là “Đấng Bảo Trợ Đấng Cứu Thế”. Quả thật, trong suốt hành trình, không chút ngờ vực, thánh Giuse nhận thấy cuộc sống của ngài là để cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria, bảo vệ Mẹ và Con Mẹ với trái tim nhân ái của một người cha.

Suy tư về sự công chính qua ơn gọi đặc biệt của thánh Giuse, chúng ta cũng hãy dành một ít phút để suy nghĩ về sự công chính của thánh Giuse qua ơn gọi riêng của mỗi người. Chúng ta hãy nhìn đến hồng ân đức tin mà mỗi người đã được lãnh nhận qua Bí tích Rửa Tội. Bạn và tôi thật sự đã làm triển nở đức tin ấy trong cuộc sống như thế nào? Chúng ta có can đảm ký thác đường đời cho Chúa như công cụ hữu ích trong tay Ngài không?

Trong đời sống gia đình, chúng ta cũng hãy nhìn đến tình phụ tử mà thánh Giuse đã thực hành trong mái nhà Nazareth xưa. Nếu thánh Giuse xem việc quan tâm chăm sóc Chúa Giêsu và Mẹ Maria như là một giao ước thì chúng ta đã chăm sóc những người ở bên cạnh chúng ta ra sao?

Suy tư về mẫu gương công chính của thánh Giuse, chúng ta cũng hãy khiêm tốn bắt chước các nhân đức của ngài qua việc bảo vệ Chúa Giêsu trong trái tim của những người xung quanh chúng ta. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với thánh Giuse, xin ngài giúp cho sự hiện diện thẳm sâu của Thiên Chúa trong mỗi người được lớn lên, triển nở và sinh hoa trái.

Trong Mùa Chay này, chúng ta cũng xin noi gương thánh Giuse về đức tin và lòng can đảm: tin rằng Thiên Chúa vẫn luôn giang rộng vòng tay chờ đón ta hoán cải trở về, dẫu cho những gian nan có thể sẽ đến trong những cuộc thanh luyện. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho các gia đình trẻ được thêm niềm tin tưởng lẫn nhau, vì niềm tin là cầu nối giúp mỗi thành viên trong gia đình gắn kết với nhau hơn. Xin Chúa cũng chúc lành cho mọi gia đình hầu giúp mọi người sống xứng đáng với ơn gọi làm chứng nhân cho tình yêu Chúa.

                                                                                          Maria Nguyễn Hạnh

4. THÁNH GIUSE – MẪU GƯƠNG VỀ SỰ PHÂN ĐỊNH

Thánh Giuse hầu như không nói một lời nào nhưng qua những biến cố và quyết định chọn lựa của ngài lại cho chúng ta bài học quý giá về sự phân định sâu sắc để tìm ra Thánh Ý Thiên Chúa trong cuộc đời. Giáo hội đang sống trong mùa Chay thánh với con đường hiệp hành mà Đức Thánh Cha mời gọi, chúng ta mừng lễ kính thánh Giuse và cùng ngài bước vào phân định như là một trong những điều kiện cần thiết để bước vào lộ trình hiệp hành.

Thánh Giuse là người cộng tác đắc lực trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Để có được sự cộng tác đó, Thánh Giuse đã phải trải qua một quá trình lắng nghe, phân định và chọn lựa. Chúng ta cùng đọc lại trình thuật Thánh Kinh của thánh Mattheu về hoàn cảnh giáng sinh của Chúa Giêsu để học hỏi nơi ngài những kinh nghiệm quý báu.

Thánh Mattheu thuật lại cho chúng ta hoàn cảnh giáng sinh của Chúa Giêsu. Câu chuyện kể rằng: Giuse đã đính hôn với Maria, nhưng trước khi hai người về chung sống thì Maria đã có thai do quyền năng của Thánh Thần. Giuse biết được điều này thì định tâm lìa bỏ Maria cách kín đáo. Đang khi tính như thế thì sứ thần đến qua giấc mộng và mọi dự tính của Giuse đã được thay đổi sau đó. Ngài đã thực hiện như lời sứ thần truyền: tiếp nhận bạn mình và chào đón con trẻ chào đời rồi đặt tên cho Hài Nhi như lời đã báo. Sự cộng tác của Giuse nghe có vẻ nhẹ nhàng nhưng đó là thành quả của cả một quá trình phân định khá khó khăn. Thánh Giuse đã làm điều này như thế nào?

Trước tiên là lắng nghe. Lắng nghe trước hết là nhận biết bằng cơ quan thính giác, bằng đôi tai. Nghe là cửa ngõ mở ra với thế giới bên ngoài để nhận thông tin, để giao tiếp và tương quan với xã hội. Giuse bằng cách nào đó đã đón nhận được thông tin về tình trạng của Maria. Với cương vị là hôn phu, Giuse biết rõ hơn ai hết về trách nhiệm của mình với thai nhi trong lòng Maria. Giuse có thể đưa ra phản ứng như bao người khác để cho mọi người biết rằng mình không hề chịu trách nhiệm về thai nhi trong lòng Maria. Tuy nhiên, Giuse đã không phản ứng như mọi người khác thường làm. Giuse là người công chính và không muốn tố cáo Maria nên đã định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Phản ứng của Giuse cho thấy ngài không chỉ tiếp nhận thông tin bằng đôi tai nhưng còn hơn thế nữa. Bằng một đôi mắt, Giuse quan sát Maria hiện tại và mọi sự sẽ xảy đến nếu Giuse công khai tuyên bố sự thật. Bằng một con tim, Giuse có thể cảm nhận được những đau đớn về thể xác và tinh thần của Maria khi Giuse phơi bày sự thật. Bằng tất cả tình yêu thương, Giuse tiếp nhận thông tin và đã không hành động theo cách thông thường nhiều người khác vẫn làm trong hoàn cảnh này. Không chỉ là lắng nghe bằng cả sự nhạy cảm của con người mình nhưng Giuse đã đi thêm một bước nữa, ngài đưa tất cả ra để phân định, để đưa ra một chọn lựa hợp tình và hợp lý. Giuse chọn phần thiệt về mình, để giữ cho người mình yêu được bình an vô sự. Giuse chọn giải pháp rút lui trong thinh lặng.

Giải pháp đầy nhân văn của Giuse lại không phải là kế hoạch hoàn hảo của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chê bỏ kế hoạch có vẻ rất tốt đẹp của Giuse nhưng Ngài mời gọi Giuse bước vào chương trình cứu độ. Giuse không được âm thầm ra đi nhưng phải ở lại và đón nhận Maria cùng thai nhi. Đó chính là kế hoạch của Thiên Chúa mà Giuse có thể biết được qua giấc mộng ban đêm. Giuse lại một lần nữa lắng nghe và phân định để nhận ra đâu là ý muốn của Thiên Chúa. Như thế, cũng như Maria trong biến cố truyền tin để đi đến quyết định cuối cùng, Giuse không chỉ trải qua một lần nhưng là nhiều lần lắng nghe, phân định và chọn lựa.

Đây cũng là điều Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Nhiều lần trong những tông huấn, những bài nói chuyện và tiếp kiến gần đây, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phân định trong đời sống chúng ta. Phân định là điều cần thiết cho những ai muốn nghiêm túc trong hành trình thiêng liêng, muốn thăng tiến và trưởng thành trong đức tin. Tuy nhiên, phân định luôn luôn là điều không dễ dàng. Tiến trình này đòi hỏi khả năng lí trí như suy tư, phán đoán; trưởng thành tâm cảm, biết mình, phân tích chuyển động nội tâm, nhận diện những tác động đang thúc đẩy trong lòng của mình và một sự lắng nghe Chúa Thánh Thần.

Nhờ lời chuyển cầu của thánh Giuse, chúng ta xin Chúa giúp ta biết lắng nghe chân thành với hết con người và trọn cả sự nhạy cảm, nhạy bén trong sự khôn ngoan, kiên nhẫn và nhiều tình yêu. Xin Chúa cho chúng ta biết phân định để chọn lựa ý Chúa và sẵn sàng bước vào tiến trình hiệp hành để thi hành điều Chúa mời gọi. Amen.

Maria Nguyễn Hường

5. THÁNH GIUSE – MẪU GƯƠNG VỀ SỰ THINH LẶNG VÀ CƯƠNG TRỰC

Mỗi khi gặp khó khăn hay phải đối diện với những thử thách, tôi lại nhìn lên thánh Giuse; một vị thánh. Sống âm thầm, thinh lặng trong mọi hoàn cảnh nhưng vẫn luôn mang dáng vẽ cương trực, công chính.

Thánh Giuse đã đón nhận Mẹ Maria và Chúa Giêsu vào trong cuộc đời mình một cách âm thầm. Cho dù ngài có thể không hiểu hết mầu nhiệm Ngôi Lời giáng thế. Nhưng ngài vẫn tin nghe theo Thánh Ý Thiên Chúa trên cuộc đời ngài. Ngài bước đi trong đời sống bằng cách lắng nghe tiếng Chúa thúc đẩy một cách âm thầm qua những giấc mộng. Chỉ khi có một lòng khao khát hướng lên Chúa thì ngài mới có thể tin tưởng và sống một đời sống vâng phục trong âm thầm như vậy. Ngài chẳng hề đòi quyền lợi gì về cho mình, ngài chẳng cao rao với mọi người là Ngài là cha nuôi của Chúa Giêsu. Ngài cũng chẳng khoe khoang những việc ngài đã làm cho Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria. Nhìn vào tấm gương âm thầm của ngài tôi tự nhủ: cũng chính vì sự kiêu ngạo, ích kỷ, sợ mất quyền lợi của mình nên trong lòng chúng ta mới thường nổi lên những cảm xúc tiêu cực. Cũng chỉ vì muốn mọi người coi trọng mình, biết đến mình nên bản thân dễ bị tổn thương. Nếu mình hướng đến một đời sống âm thầm như thánh Giuse thì chắc hẳn chúng ta sẽ tìm được bình an ngay trong những thử thách của cuộc sống.

Biểu hiện rõ nhất lối sống âm thầm của Thánh Giuse chính là sự thinh lặng. Ngài hoàn toàn thinh lặng trong mọi hoàn cảnh. Cho dù trong lòng có nhiều suy xét khi biết tin Mẹ Maria mang thai, nhưng ngài không hề thốt lên một lời kêu than nào. Cũng không có một lời lẽ nào của ngài được nhắc đến trong suốt hành trình chăm lo bảo vệ cho Ngôi Lời. Chắc hẳn thánh Giuse cũng đã nói nhiều điều với Mẹ Maria và Chúa Giêsu, nhưng có lẽ ngài cũng nói trong âm thầm để không có lời nào của ngài được kể lại. Từ sự âm thầm thinh lặng trong tâm hồn đã được biểu lộ qua sự thinh lặng bên ngoài.

Nhìn lại con người mình, có lẽ chúng ta dần đánh mất sự thinh lặng trong tâm hồn, nên khó giữ được sự thinh lặng bên ngoài. Cuộc sống của chúng ta quá ồn ào và chúng ta cũng trở nên ồn ào. Chúng ta khó kìm hãm được lời nói của mình, nhiều khi chúng ta cứ nói hết mọi điều mình nghĩ cho thỏa nỗi lòng. Để rồi có lúc chúng ta lại hối hận vì lời nói của mình. Chúng ta góp phần tạo nên sự ồn ào của cuộc sống này bằng cách thể hiện mình qua lời nói nhiều hơn là hành động. Nhìn lên thánh Giuse, ta phải xét lại con người mình, phải tìm lại sự thinh lặng trong tâm hồn để nhận ra được Thánh Ý Chúa. Cần tập luyện sự thinh lặng bên ngoài để đem lại sự bình an cho chính mình và mọi người xung quanh.

Mặc dù chọn cuộc sống âm thầm, và thinh lặng, nhưng nơi thánh Giuse chúng ta cũng thấy sự cương trực, công chính của ngài. Không vì sống âm thầm mà ngài trở nên yếu đuối. Ngài sẵn sàng bỏ những toan tính của mình để chọn điều Thiên Chúa muốn. Ngài không thỏa hiệp với sự dữ mà lựa chọn đứng lên bảo vệ gia đình của mình tránh mọi mối nguy của sự dữ. Ngài lắng nghe, phân định và hành động theo Thánh Ý Chúa trong mọi biến cố. Ngài chọn lối sống bình thường chứ không tầm thường. Ngài hằng chu toàn sứ mệnh mà Thiên Chúa đã giao cho Ngài ở trần gian này.

Với chúng ta, mỗi người đều có một ơn gọi, một đời sống theo như Chúa đã định. Thiên Chúa luôn muốn điều gì tốt nhất cho mỗi người con của Ngài. Vì thế, chúng ta cần can đảm dấn bước trong ơn gọi của mình. Sống âm thầm chu toàn đời sống mà Chúa đặt để nơi mỗi người chúng ta. Noi gương Thánh Giuse sống cương trực, công chính nơi trần thế này.

Lạy thánh Giuse, chúng con cũng muốn được noi gương bắt chước ngài chọn lối sống âm thầm, thinh lặng và can đảm vâng nghe theo Thánh Ý Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày. Xin ngài cùng chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con được thêm sức mạnh để luôn chọn Thánh Ý Chúa là gia nghiệp đời mình. Amen.

                                                                                                Teresa Thanh Tân

Mừng Lễ Thánh Giuse

Kính mừng thánh cả Giu-se,

Chúng con trần thế tràn trề hân hoan.

Đoàn con yêu mến muôn vàn,

Kính dâng cha thánh vạn ngàn lời ca.

Đoàn con Mến Thánh Giá chan hòa,

Ngợi mừng gắn kết đậm đà yêu thương.

Ngắm nhìn Thánh Cả noi gương

Vâng lời, thinh lặng, khiêm nhường dấn thân.

Vâng nghe ý Chúa nhẹ nhàng,

Đang đêm chỗi dậy sẵn sàng tuân theo.

Dù cho nguy khó hiểm nghèo,

Nhưng hằng sẵn ứng vâng theo lên đường.

Người luôn yêu đức khiêm nhường,

Sống đời thinh lặng, một lòng tin yêu.

Tinh thần trách nhiệm cao siêu,

Thương yêu chăm sóc dắt dìu Giê-su.

Cha nuôi rất mực hiền từ,

Là gương lao động chỉn chu, kiên cường.

Mẫu khuôn gia trưởng nêu gương,

Là người công chính, kỷ cương chu toàn.

Chúng con nay ở trần hoàn,

Nguyện xin Thánh Cả quan tâm chuyển cầu.

Được lòng yêu Chúa bền lâu,

Trọn tình dâng hiến, đượm mầu trung trinh.

Ước mong đi hết hành trình,

Chu toàn sứ vụ, hy sinh thành toàn.

Điệp trùng tiếng hát ngân vang,

Kết thành đoàn rước lan tràn thánh thiêng.

Nt. Anna Nguyễn Thị Đào


Suy Niệm Chúa Nhật IV Mùa Chay, Năm A

Gặp Gỡ Chúa – Cuộc Đời Biến Đổi

Cuộc sống là chuỗi những cuộc gặp gỡ, có những cuộc gặp gỡ làm thay đổi cuộc đời như người thu thuế, người phụ nữ Samari… nhưng cũng có cuộc gặp gỡ làm ta phải suy nghĩ và nặng lòng. Cuộc gặp gỡ nào cũng cần chúng ta phải có niềm tin và hy vọng. Hôm nay, anh mù đã có cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, nhờ lòng tin, anh đã được biến đổi và cuộc sống của anh bước sang trang sử mới.

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và anh mù

Trong trang Tin mừng hôm nay dưới ngòi bút sắc nét, thánh sử Gioan nói lên câu chuyện tình yêu giữa Thiên Chúa và con người qua nhân vật chính là anh mù từ thuở mới sinh. Chúa thấu hiểu những gì anh mù cần, những điều anh khao khát cả những nỗi mặc cảm tự ti khi thể lý của anh bị mù. Chúa đã đi bước trước trong tình yêu để đến với anh mù. Trong tình yêu, điều quan trọng là sự đáp trả từ hai phía: giữa người yêu và người được yêu. Chúa đã ngỏ lời yêu thương đến anh mù bằng cách “Ngài nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù và bảo anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa thì sẽ được chữa lành” (Ga 9,7). Trước lời mời ngỏ yêu thương, anh mù đã đáp trả Chúa bằng cách anh đã đến rửa ở hồ và anh được sáng mắt. Chúa Giêsu không chỉ chữa lành anh về phần thể lý nhưng Ngài còn tiếp tục đồng hành với anh, giúp người mù sáng cả con mắt đức tin. Như vậy, Chúa Giêsu đã thực hiện nơi người mù hai phép lạ cùng một thời điểm: Phép lạ sáng con mắt thể lý và phép lạ sáng con mắt đức tin.

Giả như anh mù nghi ngờ, không tin và không đáp trả lời mời gọi của Chúa thì câu chuyện tình yêu của Thiên Chúa đã rẽ sang hướng khác và sẽ thật dang dở. Anh mù sẽ bước đi trong bóng đêm tội lỗi và Thiên Chúa vẫn phải chờ đợi nhưng chính sự đáp trả tình yêu, mà anh đã được lãnh nhận ân huệ nhưng không của Thiên Chúa. Nhìn vào hình ảnh anh mù, chúng ta chắc chắn rằng Chúa không đưa ra bất kỳ điều kiện hay tiêu chuẩn nào để “yêu” chúng ta vì “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” (1Sm 16,7), chúng ta có sao, Chúa yêu chúng ta như vậy. Một vị Thiên Chúa vẫn ngỏ lời yêu thương chúng ta, Ngài vẫn chờ đợi sự đáp trả tình yêu của chúng ta. Vậy biết bao nhiêu lần chúng ta đã bỏ lỡ điểm hẹn tình yêu với Chúa?

Cuộc gặp gỡ giữa anh mù, người Pharisêu và cha mẹ anh mù

Vì Chúa Giêsu đã chữa lành cho một người mù vào đúng ngày nghỉ lễ nên những người Pharisêu tìm cách buộc tội và kết án Chúa. Đáng tiếc thay họ là những người mắt sáng nhưng lại tối tâm hồn, họ kiêu căng nên không thể nhìn thấy quyền năng của Chúa đang hiển thị trước mặt họ, vì lòng ghen ghét mà họ có cái nhìn lệch lạc về việc làm của Chúa Giêsu. Cha mẹ của anh mù cũng trở nên mù vì đã sợ hãi lẩn trốn và không dám làm chứng cho sự thật, vì cầu an nên thiếu trách nhiệm với con cái. Ngược lại, tuy anh mù về thể xác nhưng sáng về tinh thần. Anh vượt qua nỗi sợ hãi bị loại ra khỏi Hội đường để làm chứng cho sự thật, anh đã công khai nói lên niềm tin của mình vào Đấng chữa lành cho anh dù anh gặp nhiều sự chống đối, nhiều hiểm nguy nhưng anh vẫn nói đúng sự thật trong mọi diễn biến của cuộc sống, anh đã dùng cảm nghiệm của con tim để nói về vị Thiên Chúa tình yêu cho tất cả mọi người. Chính nhờ cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu mà anh đã can đảm và có kinh nghiệm cá vị với Thiên Chúa.

Nếu chúng ta được chạm vào Giêsu, được gặp gỡ Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ được biến đổi như anh mù và những bất ngờ sẽ đến với cuộc đời ta. Lặng nhìn lại cuộc sống, chúng ta đã thật sự gặp gỡ được Chúa chưa? Trong mỗi cuộc gặp gỡ, chúng ta có thái độ nào? như anh mù hay như những người Pharisêu và cha mẹ anh mù?

Như vậy, cuộc sống của chúng ta vẫn tiếp diễn hằng ngày. Đôi khi Chúa vẫn hiện diện ngay trong những con người tưởng chừng như quen thuộc, nếu ta nhìn với con mắt đức tin và với trái tim bao dung thì chính những con người ta gặp gỡ lại là nội dung chính trong cuộc đời ta và Chúa muốn ta tiếp tục viết câu chuyện tình yêu của ta với Chúa ngang qua từng con người, từng sự việc xảy đến trong cuộc đời ta.

Lay Chúa Giêsu, cuộc sống là chuỗi những điều phong phú và đa dạng, có những gam màu sáng nhưng không thiếu những gam màu tối. Xin giúp chúng con biết góp nhặt từng mảnh ghép cuộc đời sao cho ý nghĩa. Nhờ đó, chúng con hiểu giá trị của từng mảnh ghép Chúa gửi đến và biết đón nhận mọi sự trong tình yêu. Ước mong sao chúng con được gặp gỡ Chúa qua những giây phút cầu nguyện, qua những người chúng gặp gỡ để chúng con cũng được Chúa biến đổi và có những cảm nghiệm cá vị với Ngài. Amen.

Maria Thảo An