Sứ điệp Mùa Vọng tiếp tục vang lên từ sách Isaia: “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng… Hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi; con đường cong queo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng”… Những hình ảnh này nói với và nói về tâm hồn của chúng ta. Cần sửa sang, uốn thẳng con đường tâm hồn. Cần lấp mọi hố sâu, bạt mọi gồ ghề trong tâm hồn. Để làm gì? Để đón Chúa đến trong tâm hồn và trong cuộc sống của mình.
Bên cạnh đó, đoạn sách Isaia hôm nay còn làm ta phấn khích khi cho biết Chúa đến với ta trong vai trò mục tử. Một mục tử tốt lành đầy tấm lòng đối với chiên! “Người chăn dắt đoàn chiên Người như một mục tử. Người ẵm những chiên con trên cánh tay, ôm ấp chúng vào lòng, và nhẹ tay dẫn dắt những chiên mẹ”…
Chính trong hình ảnh mục tử và chiên ấy, Chúa Giêsu còn nêu rõ rằng từng con chiên đều đáng quí trọng vô cùng đối với Người, nhất là khi chiên đi lạc. “Cha anh em trên trời không muốn để một trong những kẻ bé nhỏ này phải hư đi”! Mỗi chúng ta, dù nhỏ bé đến đâu, dù lầm lạc đến đâu, cũng luôn được Thiên Chúa yêu thương và tìm cách cứu độ. Và Chúa Giêsu là khuôn mặt của lòng thương xót này của Chúa Cha.
Điều ấy thật bất ngờ, và thậm chí ở ngoài khả năng tưởng tượng của nhiều người hôm nay. Bởi vì trong đời sống thực tế của mình, chúng ta thường kinh nghiệm điều ngược lại: những kẻ bé mọn, người nghèo, người yếu thế thường bị bỏ rơi, bị áp bức, bị loại trừ, ngay cả bị thí đốt cho quyền lợi của những người giàu có và quyền lực! Chúng ta thường kinh nghiệm phẩm giá con người bị xúc phạm, sự sống con người bị coi như rác rưởi trong các qui trình, chính sách của các thể chế và các hệ thống phi nhân!…
Chúa đến, và Người giới thiệu ‘chế độ’ của Người một cách khác hẳn, với đầy niềm vui và hy vọng cho chúng ta, với phẩm giá của mỗi người được quí trọng. Vì thế, sự việc Chúa đến là niềm vui cho chúng ta, cho cả vũ trụ này: “Trời vui lên, đất hãy nhảy mừng… hỡi cây cối rừng xanh, hãy reo mừng trước tôn nhan Chúa, vì Người ngự đến cai quản trần gian. Người cai quản địa cầu theo đường công chính, cai quản muôn dân theo chân lý của Người”.
Đó là niềm hy vọng của Mùa Vọng năm Phụng vụ, và cả của mùa vọng cuộc đời!
Lm. Lê Công Đức
Kính chào Đức Nữ Trinh Thai
Mẹ là hoa Huệ chẳng phai nhạt mầu
Đoàn con tha thiết khẩn cầu
Đồng thanh tán tụng thẳm sâu cõi lòng
Năm xưa, Kinh Thánh ghi dòng
Một người trinh nữ uy phong diệt trừ
Sa-tan dưới gót dập nhừ
Mẹ là Đức Nữ trạng sư cứu đời
Hát mừng Trinh Nữ đẹp tươi
Chẳng vương nhiễm tội Nước Trời hiển vinh
Khiêm nhường tinh tuyết trung trinh
Kiên cường vững dạ trọn tình “Xin Vâng”
Bôn ba đon đả lên đàng
Xa xôi mang Chúa huy hoàng viếng thăm
Mẹ con ưu ái họ hàng
Gio-an trong dạ nhảy mừng hân hoan
Isave tâm trí ngập tràn
Bởi đâu tôi được vô vàn niềm vui
Mẹ luôn chia sẻ ngọt bùi
Ủi an nâng đỡ mảnh đời bơ vơ
Mẹ là bến đợi bến chờ
Cho người vượt sóng con đò dương gian
Đoàn con nơi chốn trần hoàn
Ngợi ca Danh Mẹ dịu dàng vang xa
Nguyện cầu Thánh Mẫu Maria
Nữ Vương Vô Nhiễm Đức Bà Trinh Thai
Chúc mừng Bổn Mạng hôm nay
Năm mươi sáu chị tràn đầy hân hoan
Hồng Ân Thiên Chúa tặng ban
Noi gương Đức Mẹ trào tràn tin yêu.
Anna Đào Nguyễn
Hôm nay chúng ta cử hành đại lễ kính Đức Maria Vô nhiễm nguyên tội. Mầu nhiệm này đã được Đức Pio IX định tín ngày 8/12/1854 tức trước khi Đức Maria hiện ra tại Lộ Đức 4 năm.
Ngay từ thời nguyên thủy, Kitô giáo đã tin Đức Maria được ơn Vô nhiễm nguyên tội nghĩa là Đức Maria không bị vướng mắc vào một tội lỗi nào cả từ khi thụ thai trong lòng mẹ. Nói một cách khác, Đức Maria được sinh ra trong tình trạng không mắc tội tổ tông truyền và giữ được tình trạng vô tội đó suốt cả cuộc đời của mình.
1. Đức Maria – con người của ân sủng
Kinh Thánh không thuật lại thời thơ ấu của Mẹ Maria, nhưng trình bày Mẹ như hình ảnh của một thiếu nữ thấm nhuần đức tin, thinh lặng và khiêm nhu. Mẹ được sinh ra trong gia đình đạo hạnh, thánh thiện, con của thánh Gioakim và thánh Anna. Từ mái ấm đơn sơ ấy, một tâm hồn hoàn toàn mở ra cho Thiên Chúa đã dần được hình thành.
Danh xưng cao quý “Đầy ân sủng” được thốt lên từ lời chào của Sứ thần Gabriel trong biến cố Truyền Tin: “Kính mừng Maria, đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà!” Tước hiệu ấy không chỉ là một lời ca tụng, nhưng là sự mạc khải về căn tính sâu xa của Mẹ: Maria là người được ân sủng Chúa bao phủ cách trọn vẹn.
Toàn bộ cuộc đời của Mẹ Maria là một hành trình cộng tác hoàn hảo giữa ân sủng Thiên Chúa và tự do của con người. Trước mọi ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, Mẹ không khép lòng trong sợ hãi nhưng mở ra bằng một tiếng “Xin Vâng” trọn vẹn tín thác. Chính trong thái độ sẵn sàng ấy, Mẹ trở nên Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ của mọi tín hữu. Mẹ hiểu rằng sống trong ân sủng không chỉ là một đặc ân, nhưng là một sứ mạng thánh thiêng phải được sống trọn vẹn mỗi ngày.
2. Đức Maria – con người của thánh thiện
Tội tổ tông, phát xuất từ sự sa ngã của Ađam và Evà, đã in dấu trên thân phận nhân loại. Riêng Mẹ Maria được Thiên Chúa ban một ân huệ độc nhất vô nhị: Mẹ được gìn giữ hoàn toàn tinh tuyền ngay từ giây phút đầu tiên hiện hữu. Tuy nhiên, sự thánh thiện nơi Mẹ không chỉ hệ tại ở đặc ân ấy, mà còn được vun trồng không ngừng qua đời sống nhân đức phi thường.
Đời sống của Mẹ Maria là đỉnh cao của sự thánh thiện, kết tinh từ hai chiều kích: hồng ân nhưng không của Thiên Chúa và sự đáp trả trọn vẹn của Mẹ. Nền tảng của sự thánh thiện ấy chính là đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng hoa trái của nó là một đời sống nhân đức sống động, khiêm nhu và kiên vững.
Đức tin của Mẹ là đức tin của người bước đi trong đêm tối nhưng vẫn hoàn toàn tín thác. Mẹ tin ngay cả khi không hiểu, phó dâng ngay cả khi đau khổ, và trung thành ngay cả khi đứng dưới chân Thập Giá. Ở đó, niềm tin của Mẹ không sụp đổ, nhưng trở thành của lễ âm thầm dâng lên Thiên Chúa.
Mẹ sống sự khiêm nhường sâu xa khi tự nhận mình chỉ là “nữ tỳ hèn mọn”, không tìm vinh quang cho bản thân nhưng quy hướng mọi sự về Thiên Chúa. Đời sống cầu nguyện thầm lặng giúp Mẹ luôn “ghi nhớ và suy niệm mọi điều trong lòng”, đọc ra chương trình nhiệm mầu mà Thiên Chúa đang thực hiện nơi cuộc đời Mẹ.
Ngay từ hang đá Bêlem nghèo hèn cho đến đỉnh đồi Canvê, Mẹ Maria luôn hiện diện trong thái độ đón nhận: đón nhận nghèo khó, đón nhận bị từ khước, đón nhận cả những nghịch lý của cuộc đời. Mẹ không trốn tránh khổ đau, nhưng chiêm ngắm và kết hiệp mọi biến cố vui hay buồn trong ánh sáng của đức tin, để nhận ra ý nghĩa cứu độ của Thiên Chúa dành cho cuộc đời Mẹ.
Lạy Mẹ Maria trong hành trình dâng hiến nhiều lúc chúng con cũng phải đối diện với những khó khăn thử thách bởi giới hạn và yếu đuối của bản thân, hay những khó khăn gặp phải trong học tập, sứ vụ, đời sống cộng đoàn hay đời sống thiêng liêng. Xin dạy chúng con biết cầu nguyện và kết nối với Chúa như Mẹ để chúng con nhận ra những ơn lành Chúa đã ban cho cuộc đời chúng con. Nhờ đó chúng con đón nhận mọi vui buồn, trái ý và nghịch lý trong cuộc sống để chúng con xây dựng đời sống thiêng liêng trên nền tảng thật vững chắc, để dù mưa sa bão táp không làm chúng con lung lay đức tin nhưng càng cậy dựa vào ơn Chúa hơn.
Maria Nguyễn Hòa (Học Viện)
Trong tâm tình của Năm Thánh Hy Vọng, ngày 06/12/2025, các chị em thuộc 9 cộng đoàn đang phục vụ tại miền Thái Bình thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Lập đã cùng nhau quy tụ trong chuyến hành hương thiêng liêng đến Vương Cung Thánh Đường Phú Nhai. Hành trình được diễn ra dưới sự hướng dẫn của quý Chị trong ban điều hành miền Thái Bình, với những phút giây gặp gỡ, những nụ cười thân thương và tâm tình hiệp nhất đã mở đầu cho một ngày thánh ân đầy ắp bình an khi chị em được hành hương trong những ngày của mùa vọng.
Khi đặt chân đến Phú Nhai, chị em được Cha Chánh Xứ Giuse Phạm Quang Vinh tiếp đón ân cần. Ngôi thánh đường uy nghiêm, trầm mặc như mở rộng vòng tay đón đoàn hành hương bước vào một không gian linh thiêng – nơi ân sủng và tình yêu Thiên Chúa chạm đến tâm hồn từng người. Giờ chầu Thánh Thể là điểm dừng sâu lắng của cả chuyến đi, với chủ đề “Tỏa sáng đời hiến dâng phục vụ” được soi dẫn từ Lời Chúa: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Căn cứ vào điều này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em yêu thương nhau.” (Ga 13,34-35).


Khi những lời ấy vang lên, bầu khí thánh đường như lắng đọng. Ánh sáng từ Nhà Tạm âm thầm soi vào những góc sâu thẳm nhất trong tâm hồn. Đức Giêsu – Đấng yêu đến tột cùng – không trao cho chúng ta một luật lệ khắt khe, nhưng ban tặng một con đường sống, một định hướng để đời thánh hiến tìm lại nhịp đập nguyên sơ của nó. “Yêu như Thầy đã yêu” là một lời mời gọi đi vào chiều sâu: yêu bằng sự kiên nhẫn, yêu bằng sự nâng đỡ, yêu bằng sự chữa lành, yêu đủ dịu dàng để ôm lấy những mảnh dễ vỡ trong mỗi chị em.
Từ Lời Chúa, chị em được nhắc nhớ rằng nếu muốn giáo dân nhận thấy sự hiện diện của các nữ tu như dấu chỉ lòng thương xót Chúa, thì chính đời sống cộng đoàn trước hết phải là một mái ấm thực sự. Mái ấm ấy không dựng bằng tường gạch, nhưng được dệt bằng những điều nhỏ bé thường ngày: một lời xin lỗi kịp lúc, một cử chỉ đỡ nâng, một ánh mắt biết lắng nghe, hay chỉ đơn giản là sự nhường nhịn nhẹ như hơi thở. Chính những điều giản dị ấy làm bừng lên ánh sáng Tin Mừng, giúp người khác nhận ra rằng Chúa đang hiện diện nơi cách chị em sống với nhau, hiền hòa, chân thành, chan chứa tình chị em, và những cách sống đó cũng giúp chị em dọn đường để Chúa đến trong tâm tình của mùa vọng này.

Trong hành trình của Năm Thánh, chuyến hành hương còn mang ý nghĩa như một bước đi nội tâm: rời bỏ những mệt mỏi, những thách đố của sứ vụ thường ngày để mở lòng đón nhận sự gạn lọc và đổi mới. Chị em đã mang theo những thao thức riêng, những cánh đồng truyền giáo còn khô khan, những khó khăn trong đời sống chung, những nhọc nhằn nơi giáo xứ phục vụ để xin ơn được biến đổi. Và khi trở về, điều chị em nhận lại không chỉ là ơn Toàn Xá, nhưng còn là một tâm hồn nhẹ hơn, bình an hơn, hy vọng hơn.
Sau khi rời Phú Nhai, chị em tiếp tục đến thăm Hội Dòng Mến Thánh Giá Kiên Lao thuộc giáo phận Bùi Chu. Cuộc gặp gỡ thân tình giữa hai hội dòng mang cùng linh đạo Mến Thánh Giá đã để lại nhiều cảm xúc tốt đẹp. Những nụ cười, lời chào, những chia sẻ rất chân thành khiến chị em cảm nhận rõ hơn sự hiệp thông trong gia đình thiêng liêng của linh đạo Mến Thánh Giá. Nơi nếp sống giản dị, trật tự và giàu tinh thần cầu nguyện của các chị em Kiên Lao – Bùi Chu, đoàn hành hương nhận ra thêm một nét đẹp của đời thánh hiến: âm thầm nhưng bền bỉ, lặng lẽ nhưng sáng ngời.


Trong bầu khí linh thiêng của chuyến đi, chị em cũng hướng lòng về văn kiện tổng tu nghị lần IX nhiệm kỳ 2025- 2029 với chủ đề “Tỏa sáng đời hiến dâng phục vụ”. Chủ đề ấy như một lời nhắc nhở dịu dàng nhưng mạnh mẽ: tỏa sáng không để người khác ngợi khen, nhưng để dẫn họ đến gần Chúa hơn, phục vụ không phải như một bổn phận thêm vào, nhưng là nhịp tim của ơn gọi Mến Thánh Giá, nơi ánh nhìn và trái tim của Đức Kitô Chịu- Đóng- Đinh trở thành chuẩn mực cho mọi chọn lựa.
Chuyến hành hương kết thúc trong ánh chiều nhẹ, nhưng lại mở ra trong mỗi chị em một ngọn lửa hy vọng mới. Hy vọng để sống yêu thương hơn, phục vụ sâu hơn, và tỏa sáng mạnh mẽ hơn giữa những sứ vụ được trao. Xin cho ánh sáng từ Thánh Giá tiếp tục đồng hành, dẫn dắt và làm mới từng chị em Mến Thánh Giá Tân Lập miền Thái Bình, để mỗi bước chân trở về đời thường luôn là một bước chân mang theo bình an và ngọn lửa của tình yêu.




MTG Tân Lập miền TB
Ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm, trình thuật từ sách Sáng thế bắt đầu bằng câu hỏi “Ngươi đang ở đâu?” Thiên Chúa hỏi Ađam ở đâu, vì ông cùng bà đang trốn trong bụi rậm. Ẩn trốn – vì xấu hổ! Và xấu hổ – vì đã làm điều gì đó không đúng, không tốt, không đẹp! Kinh nghiệm về tình trạng ‘trần truồng’ ở đây cũng là kinh nghiệm về tình trạng mình bất xứng với phẩm giá con người của mình, bất xứng với sự thật rằng mình đã được dựng nên theo ‘hình ảnh Thiên Chúa’ và ‘giống như Thiên Chúa’…
Chính vì thế, Thiên Chúa chất vấn. “Ngươi đang ở đâu?” cũng có nghĩa là: Tại sao ngươi đang ở đây, trong bụi rậm này? Điều gì trục trặc đã xảy ra? Ngươi đã làm gì?… Tuy Ađam thú nhận mình đã làm bậy, nhưng cũng ngay lập tức đổ trách nhiệm cho Eva. Còn Eva thì đổ cho con rắn. Ý thức là của mình, tự do là của mình, hành động là của mình, nhưng trách nhiệm thì gán cho kẻ khác, ngay cả gán cho con rắn! Xáo trộn, lộn xộn, rối tung lên và hư hỏng hết cả rồi…
Đó là tội nguyên tổ và hậu quả của tội nguyên tổ. Tất cả những ghi nhận trên đây cho ta thấy rõ ràng rằng tội nguyên tổ – và tội lỗi nói chung – là cái gì bất tất. Nó không được lập trình để xảy ra. Thiên Chúa không muốn nó. Sự việc nó xảy ra hoàn toàn là một tai nạn do con người lạm dụng ý chí tự do của mình.
Tội lỗi vốn là điều bất tất, là tai nạn. Vậy điều gì mới được Thiên Chúa muốn và lập trình? Điều gì mới ổn, mới OK? Trả lời: chính là tình trạng tinh tuyền, thánh thiện! Như thánh Phaolô khẳng định trong Thư Êphêsô: “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã chọn ta trước khi tạo thành vũ trụ, để ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ tình thương của Ngài… để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời”…
Nhận thức rằng tội lỗi vốn bất tất, và nhận thức rằng Thiên Chúa từ đời đời đã chọn ta để ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, chúng ta có thể có một ý niệm nào đó về đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội của Đức Trinh Nữ Maria. Thiên Chúa, Đấng không bao giờ mất quyền kiểm soát, đã gìn giữ Mẹ theo đúng như Ngài lập trình, cho kế hoạch của Ngài.
Vì thế, thiên sứ Gabriel trong lời chào của mình đã gọi Mẹ là “Đầy Ân Sủng”! Với con người, Thiên Chúa trước hết là Ân Sủng; đầy Ân Sủng nghĩa là đầy Chúa. Nghĩa là: nơi Đức Maria không có chỗ nào mà không có Chúa, không một kẽ hở nào, không một góc nào bị chiếm bởi thứ gì khác ngoài Chúa. Chỉ một mình Chúa chiếm lấy và tràn ngập cả con người và đời sống của Mẹ là nữ tỳ Ngài.
Đó là mầu nhiệm để ta chiêm ngắm và tạ ơn. Đó cũng là nguồn cảm hứng và tiếng gọi để ta định hướng chân trời đi tới, trong ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô, con của Mẹ và là niềm Hy Vọng của chúng ta. Một lần nữa, lời thánh Phaolô nhắc chúng ta: “Trong Đức Kitô, cả anh em nữa, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần… để nên lời ngợi ca cho hiển vinh danh Thiên Chúa”!
Mừng Mẹ Vô Nhiễm, như vậy, rốt cuộc cũng là mừng tiếng gọi nên thánh dành cho tất cả chúng ta.
Lm. Lê Công Đức
Trên thế giới, có lẽ người Việt Nam của thời nay là mạnh miệng nhất trong việc hô khẩu hiệu tự hào dân tộc, khi vớ được những thành tích (nhiều khi rất vớ vẩn) nào đó. Nào là “tự hào quá Việt Nam ơi”, nào là “Việt Nam mãi đỉnh”!… Người tỉnh táo sẽ nhận ra những tiếng gào thét ấy chủ yếu là tự ru ngủ mình.
Trong khi đó, nếu có một dân tộc nào đáng cảm thấy tự hào về chính mình trước hết, thì có lẽ đó nên là dân Do thái. Không phải vì người Do thái giỏi giang khoa học, quân sự hay kinh doanh này nọ…, mà trước hết bởi vì họ là dân được Chúa chọn cho kế hoạch phổ quát của Chúa! Thiên Chúa đã muốn ‘làm việc’ với toàn nhân loại qua dân này; Đấng Cứu Độ đã đến trong lịch sử của dân này.
Trong thực tế, thời Cựu Ước dân Do thái đã từng tự hào – song đó là niềm tự hào đậm chất kiêu ngạo, hãnh thắng, tách mình khỏi người khác và coi thường người khác… Chúa Giêsu đến, Người đã ‘rút tấm thảm’ tự hào ấy ra khỏi chân họ. Người mặc khải sự thật rằng Người đến để cứu rỗi mọi người, mọi dân nước. Người qui tụ muôn dân nước về một mối, chứ không phân biệt. Và đó là điều Thiên Chúa muốn. Lời Chúa của Chúa nhật 2 Mùa Vọng hôm nay trao cho ta ánh sáng để nhận thức tính phổ quát ấy của ơn cứu độ. Ta ghi nhận:
-Bài đọc 1 (Is 11,1-10): “Ngày ấy gốc Giêsê đứng lên như cờ hiệu cho MUÔN DÂN. Các dân sẽ khẩn cầu Ngài, và nơi Ngài ngự sẽ rực rỡ vinh quang”.
-Đáp ca (Tv 71): “Người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái ĐẾN TẬN CÙNG TRÁI ĐẤT… Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người cho tới khi mặt trăng không còn chiếu sáng”…
-Bài Tin Mừng (Mt 3,1-12): “Hỡi nòi rắn độc… Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối. CHỚ TỰ PHỤ nghĩ rằng: tổ tiên chúng ta là Abraham. Vì ta bảo cho các ngươi hay: Thiên Chúa quyền năng có thể KHIẾN NHỮNG HÒN ĐÁ TRỞ NÊN CON CÁI ABRAHAM”…
-Bài đọc 2 (Rm 15,4-9): “Để chứng tỏ sự chân thật của Thiên Chúa, Ðức Giêsu Kitô đã phục vụ những người chịu phép cắt bì, hầu xác nhận lời hứa cùng các tổ phụ. CÒN DÂN NGOẠI, HỌ TÔN THỜ THIÊN CHÚA vì lòng nhân từ Người, như lời chép rằng: ‘Vì vậy, lạy Chúa, con sẽ cao rao Chúa và sẽ ca tụng danh Chúa giữa các dân ngoại’”.
Vậy thì… mọi tự hào có tính qui ngã, ‘ta đây’ sẽ trở thành vô duyên! Chẳng có người nào, nước nào, dân tộc nào sở hữu Thiên Chúa và Đấng Mêsia của Ngài làm của riêng mình. Tình thương và ơn cứu độ của Chúa đủ lớn để bao trùm và chứa đựng tất cả.
Và để cho phép tình thương và ơn cứu độ của Chúa bao trùm và chứa đựng mình, trước hết chúng ta phải hưởng ứng sứ điệp của Gioan Tẩy giả, vị ngôn sứ mở đường của Chúa:
“Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Trời đã đến gần”!
Lm. Lê Công Đức
Mùa Vọng là mùa trông đợi, mùa chuẩn bị… Nhưng trong thế giới hiện đại của chúng ta, ý nghĩa về ‘trông đợi’ và ‘chuẩn bị’ dường như đã bay màu rất nhiều. Người ta có thể rộn rịp lên chương trình và chuẩn bị cho một lễ Nô-en tưng bừng mà … không có Giêsu gì cả, hoặc chỉ dành cho Giêsu một chỗ rất bé nhỏ có tính thủ tục mà thôi!…
Vì thế, rất cần đặt lại những câu hỏi, qua đó trả lại ‘linh hồn’ cho lễ Chúa Giáng Sinh, và cũng là trả lại ‘linh hồn’ cho Mùa Vọng. Ta trông đợi ai, trông đợi cái gì? Ta chuẩn bị đón ai, đón cái gì? Câu trả lời dĩ nhiên là: Chúa Giêsu! Nhưng tại sao ta trông đợi Chúa Giêsu? Người đến và đem lại điều gì tốt lành cho ta chăng? Thực sự, Người đến đây để làm gì?
Quả thực, những tuần lễ đầu của Mùa Vọng, lời Chúa tập trung trả lời cho chúng ta những câu hỏi ấy, và thuyết phục chúng ta về ý nghĩa của việc mình trông đợi Chúa. Chẳng hạn, hôm nay lời Chúa cho biết rằng Chúa Giêsu đến để chạnh lòng thương nỗi khốn khổ của chúng ta. Người thương và Người liên can vào hoàn cảnh của chúng ta. Người “đi khắp các thành phố làng mạc, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền”… “Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn”…
Và Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương như vậy cho đến cùng. Người đã chết cho chúng ta được sống. Ta còn đòi điều gì tốt lành hơn nữa chăng? Ta còn cần lý do gì khác nữa để mong đợi Người chăng?
Thực ra, sách Isaia đã báo trước về Đấng Mêsia với trái tim đầy ắp ‘chạnh lòng thương’ như vậy (x. Bài đọc 1), và đồng thời xác nhận với chúng ta rằng “Phúc cho những ai mong đợi Chúa”. Mong đợi Chúa Giêsu là mong đợi ‘đúng người’ (the right man), không sợ nhầm! Ta chỉ cần thể hiện niềm mong đợi Người cho đúng cách và cho đúng mức nữa thôi!
Lm. Lê Công Đức
Trên chuyến bay từ Libăng trở về Roma, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gặp gỡ các nhà báo và nói về vai trò của Tòa Thánh – vốn làm việc ở “hậu trường” trong các cuộc đàm phán hòa bình để các bên buông bỏ vũ khí. Về vấn đề Ucraina, ngài nhấn mạnh sự tham dự của châu Âu và tầm quan trọng của vai trò mà Ý có thể đảm nhận. Ngài trả lời một câu hỏi về phản ứng của mình khi được bầu trong Mật nghị Hồng y và về đời sống thiêng liêng của ngài: dâng hiến đời mình cho Thiên Chúa và để Người “dẫn đường”.
“Trước hết tôi muốn nói lời cảm ơn tất cả anh chị em đã làm việc rất nhiều; tôi mong anh chị em chuyển lời này đến các nhà báo khác ở Thổ Nhĩ Kỳ và ở Libăng, những người đã làm việc để truyền tải các sứ điệp quan trọng của chuyến đi này. Anh chị em cũng xứng đáng nhận một tràng pháo tay thật lớn cho chuyến đi này.”
Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chào 81 nhà báo có mặt trên chuyến bay từ Beirut trở về Roma như thế và trả lời câu hỏi của một số người trong họ bằng tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha.
Ngài nói về chuyến Tông du vừa kết thúc, Trung Đông, cuộc chiến tại Ucraina, sự hiện diện của châu Âu trong các cuộc đàm phán hòa bình, tình hình Venezuela.
Ngài cũng nhận được món quà từ một phóng viên người Libăng: một bức tranh vẽ tay, được thực hiện trực tiếp trên truyền hình những ngày này, mô tả ngài và những địa điểm biểu tượng mà ngài đã đến thăm tại Đất nước của những cây tuyết tùng.
Joe Farchakh (LBC International):
Ngài là một Giáo hoàng người Mỹ đang dẫn dắt một tiến trình hòa bình. Câu hỏi của con là: ngài có dùng những mối liên hệ của mình với Tổng thống Donald Trump, với Thủ tướng Benjamin Netanyahu không? Trên máy bay ngài đã nói rằng Vatican là bạn của Israel. Ngài có nêu vấn đề Israel chấm dứt tấn công Libăng không? Và liệu một nền hòa bình bền vững có khả thi trong khu vực không?
– Trước hết, vâng, tôi nghĩ rằng một nền hòa bình bền vững là có thể. Tôi nghĩ rằng khi chúng ta nói về hy vọng, khi chúng ta nói về hòa bình, khi chúng ta nhìn về tương lai, chúng ta làm thế là bởi vì hòa bình có thể một lần nữa đến với khu vực này và đến với đất nước Libăng của anh. Thật vậy, tôi đã có vài cuộc trao đổi với một số nhà lãnh đạo thuộc các quốc gia mà anh vừa nhắc đến và tôi dự định sẽ tiếp tục làm như vậy – trực tiếp hoặc qua Tòa Thánh – bởi thực tế là chúng tôi có quan hệ ngoại giao với phần lớn các nước trong khu vực, và điều chúng tôi hy vọng chắc chắn là tiếp tục nâng cao lời kêu gọi hòa bình mà tôi đã nói đến vào cuối Thánh lễ hôm nay.
Imad Atrach (Sky News Arabia):
Trong bài diễn văn cuối của ngài có một thông điệp rất rõ ràng gửi đến chính quyền Libăng rằng cần đàm phán. Đàm phán, đối thoại, xây dựng. Vatican sẽ làm điều gì cụ thể theo hướng này không? Tối qua ngài đã gặp một nhân vật thuộc nhóm Hồi giáo Shia. Trước chuyến đi này Hezbollah đã gửi cho ngài một thông điệp; con không biết ngài có nhận được hay đã đọc nó chưa. Ngài có thể cho chúng con biết điều gì về việc này không? Xin cảm ơn ngài rất nhiều vì đã đến thăm Libăng – điều đó là ước mơ của chúng con.
– Một khía cạnh của chuyến đi này – tuy không phải là lý do chính, vì chuyến đi được khởi xướng với ý tưởng về các vấn đề đại kết, với chủ đề Nixêa, cuộc gặp với các vị Thượng phụ Công giáo và Chính thống nhằm tìm kiếm sự hiệp nhất của Giáo hội – nhưng quả thật trong chuyến đi này tôi cũng đã có những cuộc gặp riêng với các đại diện của nhiều nhóm khác nhau, những người đại diện giới chức chính trị, cá nhân hay nhóm có liên quan đến các cuộc xung đột nội bộ hay quốc tế trong khu vực. Công việc của chúng tôi chủ yếu không phải là điều công khai mà chúng tôi tuyên bố ngoài đường phố; nó diễn ra ở hậu trường. Đó là điều mà chúng tôi đã làm và sẽ tiếp tục làm để thuyết phục các bên từ bỏ vũ khí, bạo lực và cùng nhau đến bàn đối thoại. Tìm kiếm những câu trả lời và giải pháp không bạo lực nhưng có thể hiệu quả hơn.
(Về Thông điệp của Hezbollah)
– Vâng, tôi đã xem. Rõ ràng phía Giáo hội đề nghị rằng họ hãy từ bỏ vũ khí và rằng chúng ta hãy tìm kiếm đối thoại. Nhưng lúc này tôi xin không bình luận thêm nữa.
Cindy Wooden (CNS):
Thưa Đức Thánh Cha, vài tháng trước ngài đã nói rằng có rất nhiều điều phải học khi làm Giáo hoàng. Khi ngài đến Harissa hôm qua, với một sự đón tiếp nồng nhiệt, ngài có vẻ mặt của người đang nói: “Wow!”. Ngài có thể cho chúng con biết ngài đang học gì không? Điều khó khăn nhất trong việc học để trở thành Giáo hoàng là gì? Và rồi, ngài chưa bao giờ nói với chúng con điều gì về cảm xúc của ngài trong Mật nghị, khi mọi chuyện trở nên rõ ràng đang diễn ra. Ngài có thể nói một chút về điều đó không?
– Vâng, nhận xét đầu tiên của tôi là chỉ một hoặc hai năm trước thôi, chính tôi cũng đã nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ về hưu. Rõ ràng là chị đã nhận được món quà đó rồi; còn một số người trong chúng tôi thì sẽ tiếp tục làm việc (một câu nói đùa ám chỉ việc nữ phóng viên này sẽ nghỉ hưu vào tháng 12 – ghi chú của ban biên tập).
Về Mật nghị hồng y, tôi hoàn toàn tin vào sự bí mật của Mật nghị, mặc dù tôi biết rằng đã có những cuộc phỏng vấn công khai nơi mà một số điều đã bị tiết lộ. Tôi đã nói với một nữ phóng viên hôm trước ngày tôi được bầu – cô ấy đã chặn tôi ngoài đường – khi tôi đang đến nhà dòng Augustino để ăn trưa. Và cô ấy hỏi tôi: “Ngài đã trở thành một trong các ứng viên rồi! Ngài nghĩ sao về chuyện đó?”. Và tôi chỉ đơn giản trả lời: “Mọi sự đều nằm trong tay Thiên Chúa”. Và tôi tin điều đó một cách sâu xa.
Một trong số các bạn, một nhà báo người Đức ở đây, mới hôm kia thôi đã hỏi tôi: hãy nói cho chúng con một cuốn sách, ngoài Thánh Augustino, mà chúng con có thể đọc để hiểu Prevost là ai. Có nhiều lắm, nhưng một trong số đó là cuốn “Thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa”. Đó là một cuốn sách thật sự đơn giản, của một người thậm chí không ký bằng họ của mình – tu huynh Lawrence – được viết nhiều năm trước. Nhưng nó mô tả một kiểu cầu nguyện và tu đức trong đó con người chỉ đơn giản là dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa và để Chúa dẫn dắt.
Nếu các bạn muốn biết điều gì đó về tôi, về đời sống thiêng liêng của tôi trong nhiều năm, giữa biết bao thử thách – sống ở Peru trong những năm khủng bố, được gọi đến phục vụ ở những nơi tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được gọi đến – thì tôi tin tưởng vào Thiên Chúa, và đây là sứ điệp tôi chia sẻ với mọi người. Vậy điều đó đã như thế nào? Tôi đã phó thác khi thấy mọi chuyện đang diễn ra như thế, và tôi nói rằng điều đó có thể trở thành hiện thực. Tôi hít một hơi thật sâu và thưa: “Này đây, lạy Chúa, Ngài là chủ; xin Ngài dẫn đường”.
Tôi không biết liệu tối qua ở Harissa tôi có nói “wow” hay không. Theo nghĩa là khuôn mặt tôi rất biểu cảm, nhưng tôi thường thấy thú vị trước cách các nhà báo diễn giải gương mặt tôi. Thật thú vị: đôi khi tôi lấy được những ý tưởng hay từ các bạn, bởi vì các bạn nghĩ rằng mình có thể đọc được suy nghĩ của tôi hoặc đọc được gương mặt của tôi. Nhưng các bạn không phải lúc nào cũng đúng.
Tôi đã ở Đại hội Giới trẻ, nơi có hơn một triệu bạn trẻ. Tối qua chỉ có một đám đông nhỏ. Nhưng với tôi điều đó luôn tuyệt vời. Tôi nghĩ: “Những người này đến đây vì muốn thấy Giáo hoàng”, nhưng rồi tôi lại tự nhủ: “Họ đến vì muốn thấy Đức Giêsu Kitô”, và họ muốn thấy một sứ giả hòa bình, nhất là trong trường hợp này. Vì vậy, chỉ cần nghe sự nhiệt thành của họ và nghe phản ứng của họ trước sứ điệp ấy đã thật ấn tượng. Tôi chỉ hy vọng mình không bao giờ mệt mỏi trong việc trân trọng tất cả những gì mà những người trẻ này đang bày tỏ.
Gian Guido Vecchi (Corriere della Sera):
Đây là thời gian đầy căng thẳng giữa NATO và Nga; người ta nói đến chiến tranh hỗn hợp, nguy cơ tấn công mạng và những điều tương tự. Ngài có thấy nguy cơ leo thang, một cuộc xung đột được tiến hành bằng những phương tiện mới như các lãnh đạo NATO cảnh báo không? Và trong bầu khí này, liệu có thể có một cuộc đàm phán cho một nền hòa bình công bằng mà không có châu Âu, trong những tháng này đã bị chính quyền Mỹ loại ra một cách hệ thống?
– Đây rõ ràng là một chủ đề quan trọng đối với hòa bình thế giới, nhưng Tòa Thánh không tham gia trực tiếp vì chúng tôi không phải là thành viên của NATO và của tất cả các cuộc đối thoại cho đến nay. Mặc dù nhiều lần chúng tôi đã kêu gọi ngừng bắn, đối thoại, và không chiến tranh.
Đây là một cuộc chiến với nhiều khía cạnh lúc này, cả với sự gia tăng vũ khí, toàn bộ các loại đang có, các cuộc tấn công mạng, vấn đề năng lượng. Bây giờ mùa đông đến, đó sẽ là một vấn đề nghiêm trọng ở đó.
Rõ ràng là, một mặt, Tổng thống Hoa Kỳ nghĩ rằng ông có thể thúc đẩy một kế hoạch hòa bình mà ông muốn thực hiện, và ít nhất trong giai đoạn đầu tiên là không có châu Âu. Nhưng sự hiện diện của châu Âu lại quan trọng, và đề xuất ban đầu đó đã được điều chỉnh một phần vì những điều châu Âu nói.
Cụ thể, tôi nghĩ rằng vai trò của Ý có thể rất quan trọng. Về mặt văn hóa và lịch sử, Ý có khả năng làm trung gian trong một cuộc xung đột giữa các bên khác nhau – Ucraina, Nga, Hoa Kỳ…
Theo nghĩa này, tôi có thể đề nghị rằng Tòa Thánh có thể khuyến khích kiểu trung gian đó, và người ta tìm – và chúng ta cùng tìm – một giải pháp thực sự có thể mang lại hòa bình, một nền hòa bình công bằng, trong trường hợp này là ở Ucraina.
Elisabetta Piqué (La Nación):
Lá cờ của Libăng có cùng màu với lá cờ của Peru. Có phải đó là dấu hiệu rằng ngài sẽ thực hiện một chuyến đi tới Châu Mỹ Latinh vào sau giữa năm tới, bao gồm Argentina và Uruguay? Bỏ những lời nói đùa sang một bên, những chuyến tông du nào ngài đang chuẩn bị cho năm tới? Và ngoài ra, nói về Châu Mỹ Latinh, có rất nhiều căng thẳng liên quan đến những gì đang xảy ra ở Venezuela. Có một tối hậu thư của Tổng thống Trump yêu cầu ông Maduro từ chức, rời bỏ quyền lực, và một lời đe dọa “loại bỏ ông ấy” bằng một chiến dịch quân sự. Ngài nghĩ gì về điều này?
– Về các chuyến đi, hiện chưa có gì là hoàn toàn chắc chắn; tôi hy vọng sẽ thực hiện một chuyến đi đến châu Phi. Đó có thể sẽ là chuyến tông du kế tiếp.
Đi đâu ạ?
– Châu Phi, châu Phi. Cá nhân tôi hy vọng được đến Algeria để viếng thăm những nơi liên quan với Thánh Augustino, nhưng cũng để có thể tiếp tục cuộc đối thoại, xây dựng những nhịp cầu giữa thế giới Kitô giáo và thế giới Hồi giáo. Trước đây, trong một vai trò khác, tôi cũng đã có cơ hội nói về chủ đề này. Thật thú vị: hình ảnh Thánh Augustino rất hữu ích như một nhịp cầu, vì ở Algeria ngài được tôn trọng như một người con của đất nước.
Đó là một điểm. Sau đó là một vài quốc gia khác nữa, nhưng chúng tôi vẫn đang làm việc. Dĩ nhiên tôi rất muốn thăm Châu Mỹ Latinh, Argentina và Uruguay – những nơi đang chờ đợi chuyến thăm của Giáo hoàng. Peru, tôi nghĩ họ sẽ đón tiếp tôi; và nếu tôi đến Peru thì còn nhiều nước láng giềng khác nữa. Nhưng kế hoạch vẫn chưa được xác định.
Về Venezuela, ở cấp độ Hội đồng Giám mục và qua vị Khâm sứ Tòa Thánh, chúng tôi đang tìm cách làm dịu tình hình, chủ yếu tìm kiếm thiện ích cho người dân, vì trong những tình huống như thế, người đau khổ chính là dân chúng, chứ không phải chính quyền.
Những tín hiệu đến từ Hoa Kỳ thì thay đổi, và vì thế cần phải theo dõi. Một mặt, dường như đã có một cuộc điện đàm giữa hai tổng thống; mặt khác, lại có nguy cơ, khả năng có một hành động quân sự, thậm chí là xâm nhập lãnh thổ Venezuela.
Một lần nữa tôi tin rằng tốt hơn là tìm kiếm đối thoại trong khi vẫn có áp lực – kể cả áp lực kinh tế – nhưng cũng cần tìm kiếm những cách thức khác để thay đổi nếu đó là điều mà Hoa Kỳ quyết định làm.
Mikail Corre (La Croix):
Xin cảm ơn vì chuyến đi thú vị này. Ngài đã nói rằng cần tiếp tục xây dựng những nhịp cầu giữa các thế giới khác nhau. Con muốn hỏi: một số người Công giáo ở châu Âu cho rằng Hồi giáo là một mối đe dọa đối với căn tính Kitô giáo của phương Tây. Họ có lý không, và ngài muốn nói gì với họ?
– Tất cả những cuộc trò chuyện tôi đã có trong những ngày này, cả ở Thổ Nhĩ Kỳ lẫn ở Libăng, bao gồm cả những cuộc gặp với nhiều tín đồ Hồi giáo, đều xoay quanh chủ đề hòa bình và tôn trọng con người thuộc các tôn giáo khác nhau.
Tôi biết rằng không phải lúc nào cũng như vậy. Tôi biết rằng ở châu Âu thường có những nỗi sợ, nhưng phần lớn chúng xuất phát từ những người chống lại việc nhập cư và tìm cách giữ những người có thể đến từ quốc gia khác, tôn giáo khác, chủng tộc khác ở ngoài. Và theo nghĩa đó, tôi muốn nói rằng tất cả chúng ta cần làm việc cùng nhau.
Một trong những điều tích cực của chuyến đi này là nó thu hút sự chú ý của thế giới vào khả năng đối thoại và tình bạn giữa người Hồi giáo và Kitô hữu.
Tôi nghĩ rằng một trong những bài học lớn mà Libăng có thể dạy thế giới chính là cho thấy một vùng đất nơi Hồi giáo và Kitô giáo cùng hiện diện, tôn trọng lẫn nhau, và có thể sống với nhau như bạn hữu. Những câu chuyện, những chứng từ chúng ta nghe trong hai ngày qua đều là những người giúp đỡ lẫn nhau: Kitô hữu và người Hồi giáo, cả hai đều có làng mạc bị phá hủy, và họ nói với chúng ta rằng họ có thể sống cùng nhau và làm việc cùng nhau. Tôi nghĩ đó là một bài học quan trọng mà châu Âu và Bắc Mỹ cần lắng nghe: có lẽ chúng ta nên bớt sợ hãi và tìm kiếm những cách thức thúc đẩy đối thoại chân thành và sự tôn trọng.
Anna Giordano (ARD Radio):
Giáo hội tại Libăng cũng được nâng đỡ bởi Giáo hội tại Đức. Chẳng hạn, có một số tổ chức cứu trợ của Đức đang hoạt động tại Libăng. Từ góc độ này, điều quan trọng là Giáo hội tại Đức vẫn phải là một Giáo hội mạnh. Như ngài chắc chắn đã biết, có một con đường công nghị – Synodaler Weg – một tiến trình thay đổi của Giáo hội tại Đức, đang tiếp tục diễn ra. Ngài nghĩ rằng tiến trình này có thể là một cách để củng cố Giáo hội, hay ngược lại? Và vì sao?
– Con đường công nghị không chỉ diễn ra ở Đức; toàn thể Giáo hội đã cử hành Thượng Hội đồng và đời sống hiệp hành trong những năm gần đây. Có những điểm rất giống nhau, nhưng cũng có những khác biệt rõ rệt giữa cách mà Synodaler Weg ở Đức đã được thực hiện và cách mà tiến trình ấy có thể được tiếp tục tốt hơn trong Giáo hội hoàn vũ.
Một mặt, tôi muốn nói rằng luôn có chỗ cho việc tôn trọng sự hội nhập văn hóa. Thực tế là ở nơi này hiệp hành được sống theo cách này, còn nơi khác theo cách khác, không có nghĩa là phải có một sự chia rẽ hay đổ vỡ. Tôi nghĩ điều đó rất quan trọng và cần được nhớ đến.
Đồng thời, tôi lo rằng nhiều người Công giáo ở Đức tin rằng một số khía cạnh của con đường công nghị được thực hiện cho đến nay tại Đức không diễn tả đúng niềm hy vọng của họ dành cho Giáo hội hoặc cách họ sống Giáo hội.
Vì vậy, cần có thêm đối thoại và lắng nghe ngay trong chính nội bộ nước Đức, để không ai bị loại trừ; để tiếng nói của những người có quyền lực không làm im lặng tiếng nói của những người tuy đông đảo, nhưng có thể không có nơi để cất tiếng nói và được lắng nghe. Như thế sẽ giúp những tiếng nói và những cách thức tham gia đời sống Giáo hội của họ được tôn trọng.
Đồng thời, như chắc chắn các bạn biết, nhóm Giám mục Đức, trong những năm gần đây, đã gặp một nhóm Hồng y của Giáo triều Roma. Ở đó cũng đang diễn ra một tiến trình nhằm bảo đảm rằng con đường công nghị Đức không đi chệch khỏi điều cần được coi là con đường của Giáo hội hoàn vũ.
Tôi chắc chắn tiến trình ấy sẽ tiếp tục. Tôi tin rằng sẽ có những điều chỉnh từ cả hai phía ở Đức, nhưng tôi thực sự hy vọng mọi sự sẽ được giải quyết một cách tích cực.
Rita El-Mounayer (SAT-7 International):
Chúng con là bốn kênh truyền thông Kitô giáo khác nhau tại Trung Đông và Bắc Phi: hai kênh tiếng Ả Rập, một tiếng Ba Tư, và một tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Trước hết, con xin cảm ơn ngài vì đã dành thời gian cho người dân Libăng. Chính bản thân con là một người con sinh ra trong chiến tranh, và con biết việc nhận một cái ôm từ Đức Thánh Cha, một cái vỗ vai và lời nói rằng “mọi sự sẽ ổn thôi” có ý nghĩa thế nào.
Điều khiến con ấn tượng là châm ngôn của ngài: “In Illo Uno Unum”. Châm ngôn đó nói về việc xây dựng những nhịp cầu giữa các hệ phái Kitô giáo khác nhau, giữa các tôn giáo, và cả giữa những người láng giềng – điều mà đôi khi có thể rất khó khăn. Từ quan điểm của ngài, Giáo hội Trung Đông – với tất cả nước mắt, thương tích, thử thách và lịch sử của mình – có thể mang đến món quà độc đáo nào cho Giáo hội phương Tây và cho thế giới?
– Tôi muốn nói trước rằng ngày nay con người lớn lên trong một xã hội rất cá nhân chủ nghĩa. Những người trẻ – những người đã dành quá nhiều thời gian (trên máy tính – ghi chú) trong đại dịch Covid, và thường có những mối tương quan rất cô lập vì họ chỉ giao tiếp qua màn hình máy tính hay điện thoại – đôi khi tự hỏi: “Tại sao chúng ta lại phải muốn trở nên một? Tôi là một cá nhân, tôi không quan tâm đến người khác”.
Và tôi nghĩ ở đây có một thông điệp rất quan trọng để gửi đến mọi người: sự hiệp nhất, tình bạn, các mối tương quan nhân loại, sự hiệp thông – tất cả đều vô cùng quan trọng và vô cùng quý giá. Nếu không vì lý do nào khác, thì ví dụ mà chị vừa nhắc đến: một người từng sống qua chiến tranh, từng đau khổ và vẫn đang đau khổ – một cái ôm có thể có ý nghĩa thế nào đối với họ.
Cử chỉ rất nhân bản, rất thật, rất lành mạnh ấy – sự chăm sóc chân thành dành cho người khác – có thể chữa lành trái tim của họ. Ở cấp độ cá nhân, điều đó có thể trở thành cấp độ cộng đồng, quy tụ tất cả chúng ta, giúp chúng ta hiểu và tôn trọng nhau, vượt xa khỏi thái độ: “Anh tránh xa tôi, tôi ở đây, anh ở đó, và chúng ta không tiếp xúc”. Điều đó có nghĩa là xây dựng những tương quan làm phong phú mọi người. Với thông điệp này, rõ ràng khẩu hiệu của tôi – nhờ Đức Kitô – “In Illo” là “trong Đức Kitô Đấng duy nhất, chúng ta tất cả là một”.
Nhưng điều đó không chỉ dành cho Kitô hữu. Thực ra đó là lời mời gọi dành cho tất cả chúng ta – và cho mọi người khác – rằng: càng thúc đẩy hiệp nhất chân thật, sự hiểu biết, tôn trọng, tình bạn và đối thoại giữa con người trong thế giới, thì chúng ta càng có khả năng đặt sang một bên vũ khí chiến tranh, loại bỏ sự ngờ vực, hận thù, thù địch – những điều đã quá thường xuyên phát sinh. Và rồi chúng ta sẽ tìm được cách hiệp nhất và thăng tiến hòa bình và công lý đích thực trên khắp thế giới.
Chúc mọi người thượng lộ bình an, và xin cảm ơn tất cả anh chị em.
Sách Isaia tiếp tục nói về “ngày ấy”, ngày của Đấng Mêsia. Hôm nay, thời Mêsia ấy được miêu tả bằng một loạt những hình ảnh đầy phấn khích, với ý nghĩa có tính trực tiếp nhiều hơn là ẩn dụ: “Ngày ấy, người điếc sẽ được nghe lời Sách Thánh, và từ bóng tối, mắt người mù sẽ được xem thấy. Những người hiền lành sẽ càng thêm vui mừng trong Chúa, và những kẻ nghèo khó sẽ nhảy mừng trong Ðấng Thánh của Israel. Vì chưng, người ỷ thế sẽ thất bại, kẻ khinh người sẽ bị hổ ngươi, người mưu toan gian ác sẽ bị tiêu diệt”…
Quả là khi Đấng Mêsia là Chúa Giêsu đến, Người đã cho kẻ điếc được nghe và kẻ mù được thấy, kẻ nghèo khó được vui mừng vì Người dành quan tâm cho họ cách ưu tiên. Nhưng hoạt động thi ân giáng phúc ấy của Chúa Giêsu, dù được thấy là ‘trực tiếp’ đến mấy, cũng vẫn còn mang ý nghĩa ẩn dụ! Nó hé mở cho thấy Chúa Giêsu là sự chữa lành, sự giải phóng toàn diện và sâu xa nhất, chứ không chỉ là một nhà chữa bệnh thể lý mà thôi.
Trong ý nghĩa ấy, việc Chúa chữa cho người mù được sáng mắt mặc khải rằng Người chính là ánh sáng chiếu soi vào đêm tối tâm hồn chúng ta. Không có Người, chúng ta chìm ngập trong bóng tối, quờ quạng vô phương hướng. Có Người, chúng ta được sáng tỏ và nhận ra đâu là sự thật và đâu là sự giả dối, đâu là khôn ngoan và đâu là điên rồ, đâu là sống và đâu là chết… Và chúng ta tuyên xưng: “Chúa là sự sáng và là Ðấng cứu độ tôi… Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa”… (x. Tv 26).
Mà ta đừng quên rằng hai anh mù hôm nay đã thể hiện lòng tin vào Chúa Giêsu trước, và sự chữa lành của hai anh đã đến sau. Đây là mô típ thông thường của các phép lạ chữa lành mà Chúa Giêsu thực hiện. Đức tin làm ra phép lạ!
Chúng ta hãy học lấy đức tin của hai anh mù này: Kêu xin Chúa cách tha thiết… mà nếu Chúa có vẻ thờ ơ thì vẫn cứ kiên nhẫn bám theo Chúa suốt con đường, cho đến nhà, chứ không bỏ cuộc… Tìm mọi cách sáp lại gần Chúa… và khi Chúa hỏi có tin không, thì mau mắn trả lời rằng có!…
Và mọi việc còn lại, hãy để Chúa làm!
Lm. Lê Công Đức