Giao ước được lập giữa Đức Chúa Giavê và Israel (Xuất 19:1-20). Trong cuộc gặp gỡ, Đức Chúa làm cho dân Israel run sợ. Đức Chúa bày tỏ ý định của Ngài đối với Israel qua ông Môsê, là người trung gian. Ông Môsê tường thuật cho dân ý muốn của Đức Chúa. Sau đó, ông trở lại với Đức Chúa để báo cáo về sự chấp nhận của mọi người.
Chúa Giêsu, Đấng Trung Gian mới, đến để bày tỏ thánh ý Thiên Chúa. Ngài dùng các dụ ngôn để rao giảng Nước Thiên Chúa. Một số người chấp nhận thông điệp, trong khi những người khác cảm thấy khó chấp nhận. Sau đó, Chúa Giêsu nói thêm: “Ai đã có, thì sẽ được cho thêm, và sẽ có dư thừa; ai không có, thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy đi.” (Mt 13,10-17).
“Tất cả những gì chúng ta đang có là quà tặng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Những gì chúng ta trở thành là món quà của chúng ta trả lại cho Chúa” (tác giả vô danh).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Thông qua một phúc chiếu được công bố ngày 25/7/2023, Đức Thánh Cha đã lập Quỹ (Đức Hồng y) Văn Thuận, để thay thế hai Quỹ được thành lập trước đây là “Người Samaria nhân hậu” và “Công lý và Hòa bình.”
Phúc chiếu của Đức Thánh Cha có hiệu lực từ ngày 25/7/2023, theo điều 120 triệt 1 của Bộ Giáo luật, hủy bỏ hai Quỹ “Người Samari nhân hậu” và “Công lý và Hòa bình” và thành lập Quỹ Văn Thuận để thay thế. Quỹ mới này được đặt theo tên Đức Hồng y người Việt Nam qua đời năm 2002.
Quỹ “Công lý và Hòa bình” được Đức Biển Đức XVI thành lập vào năm 2007 với chức năng chính là hỗ trợ các sáng kiến nhằm cung cấp viện trợ nhân đạo cho các nước đang phát triển để thăng tiến người dân nghèo, bằng cách tài trợ học bổng cho sinh viên các khóa học về Học thuyết xã hội của Giáo hội. Ngoài ra, Quỹ này còn tích cực cộng tác trong án phong chân phước cho Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
Trong khi đó, Quỹ Người Samari nhân hậu” được Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II thành lập vào ngày 12 tháng 9 năm 2004 để giúp người dân chống lại các bệnh như AIDS, sốt rét và bệnh lao, đặc biệt là ở Châu Phi.
Từ năm 1998 cho đến khi qua đời, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận là chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình. Trước đó nhiều năm, ngài đã bị giam giữ 13 năm trong các nhà tù của Việt Nam. Án phong chân phước cho ngài hiện đang được tiến hành.
Trong phúc chiếu, được phê chuẩn trong buổi tiếp kiến vào ngày 3/7/2023 dành cho Đức Hồng Y Michael Czerny, Chủ tịch Bộ Phục vụ Phát triển Con người Toàn diện, Đức Thánh Cha cũng ra sắc lệnh rằng, trong khi chờ ban hành các quy chế mới, tài sản còn lại của hai Quỹ “Người Samari nhân hậu” và “Công lý Hòa bình” được chuyển giao cho Quỹ Văn Thuận mới được thành lập.
Ngày nay, chúng ta có thể thất vọng nhiều thứ. Chúng ta phải hứng chịu thiên tai tự nhiên cũng như do con người gây nên. Nhiều người đang phải đau khổ và phải chết.
Chiến binh của Thiên Chúa Giavê dẫn dắt dân Israel ra khỏi Ai Cập. Khi đến vùng đất sa mạc, họ kêu trách: “các ông đã bắt chúng tôi vào sa mạc để bắt tất cả chúng tôi phải chết đói”. Đức Giavê dịu dàng đáp lời: “Ta đã nghe thấy những lời anh em kêu trách. Các ngươi sẽ được ăn bánh và chim cút. Hãy biết rằng, Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Xh 16:1-5, 9-15).
Chúa Giêsu có thể đã thất vọng. Chỉ một số ít người theo Ngài và một số người bạn thân thiết thậm chí còn rời bỏ Ngài. Các nhà chức trách thì thù địch. Đám đông thì hiểu lầm Ngài. Tuy nhiên, Ngài vẫn tự tin. Ngài mời gọi chúng ta trở thành mảnh đất tốt để hạt giống được bén rễ và lớn lên sinh hoa kết trái (Mt 13:1-9).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Thể theo thỉnh nguyện thư của Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, về việc xin một phần hài cốt của Đức cha François Pallu về đặt tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội, Đức Tổng Giám mục Paris và Cha Bề trên nhà M.E.P đã đồng ý thư thỉnh nguyện và quyết định khai mở phần mộ của Đức cha Pallu vào ngày 10/7/2023 vừa qua.
Trong tiến trình điều tra vụ án phong chân phước và phong thánh của Đức cha François Pallu, Đức Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội, được Toà Thánh chấp thuận, trong bức thư ngày 15 tháng 9 năm 2021, cho việc mở án phong Chân phước và phong Thánh của Đức cha Pallu ở cấp giáo phận.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023, Đức Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên đã viết thư thỉnh nguyện tới Đức cha Laurent Ulrich, Tổng Giám mục Paris và Cha Vincent Sénéchal, Bề trên nhà M.E.P. về việc xin một phần hài cốt của Đức cha Pallu về đặt tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội. Sau thời gian bàn hỏi với Ban Cố vấn, Đức Tổng Giám mục Paris và Cha Bề trên nhà M.E.P đã đồng ý thư thỉnh nguyện và quyết định khai mở phần mộ của Đức cha Pallu.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023 vừa qua, trước sự chứng kiến của Cha Michel Esposito, Kinh sĩ Nhà thờ Chính toà Paris, Cha Vincent Sénéchal, Bề trên nhà M.E.P. và một số người khác, phần mộ của Đức cha Pallu đã được khai mở.

Theo như Cha Vincent cho biết phần hài cốt của Đức cha Pallu không còn nhiều. Thế nên, Nhà M.E.P. quyết định chuyển về Hà Nội một chiếc răng hàm của Đức cha Pallu.
Theo như dự kiến đã được đệ trình lên Bộ Phong thánh và Hội đồng Giám mục Việt Nam, để dân Chúa dễ đến sùng kính hài cốt của Đức cha François Pallu, một phần hài cốt của ngài sẽ được chuyển về Hà Nội và được đặt tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội vào ngày 29 tháng 10 năm 2023. Cũng theo như dự kiến, lễ mở án phong Chân phước và phong Thánh cấp giáo phận của Đức cha Pallu sẽ được cử hành vào lúc 10h00, Chúa nhật, ngày 29 tháng 10 năm 2023 tại Nhà thờ Chính toà Hà Nội. Đây cũng là ngày kỷ niệm 339 năm ngày Đức cha Pallu qua đời (29/10/1684).


Sơ lược tiểu sử và hành trình truyền giáo của Đức cha Franҫois Pallu

Đức Cha François Pallu, Đại diện Tông tòa tiên khởi của Đàng Ngoài nhưng chưa một ngày được đặt chân tới mảnh đất được ủy thác cho mình. Ngài trút hơi thở âm thầm trên mảnh đất truyền giáo Phúc Kiến – Trung Hoa, vào Chúa nhật ngày 29 tháng 10 năm 1684[1].
Đức cha Franҫois Pallu chào đời tại giáo xứ Saint-Saturnin, thành phố Tours, nước Pháp vào cuối tháng 8 năm 1626, được rửa tội ngày 31 tháng 8 năm 1626. Ngài thuộc về dòng tộc giàu sang, quyền quý và đạo đức. Thân phụ là lãnh chúa vùng Périers. Mẹ là ái nữ của thị trưởng thành Tours. Gia đình có 18 người con, trong đó có bốn người con trai gia nhập dòng tu và ba người con gái là nữ tu.
Từ nhỏ, người ta đã thấy nơi Pallu hướng chiều về sự thiện, có tinh thần ôn hòa, khôn ngoan, khiêm tốn và tràn đầy đạo đức. Từ thời niên thiếu Pallu đã gia nhập bậc giáo sĩ, lớn lên theo học thần học tại Paris. Tại kinh đô ánh sáng, vị Đại diện Tông tòa tương lai rất được mọi người mến mộ về đời sống cầu nguyện và tinh thần hòa đồng.
Có lẽ ngài được thụ phong linh mục vào ngày 24 tháng 9 năm 1650. Ngày 29 tháng 7 năm 1658, Đức Thánh Cha ban đoản sắc bổ nhiệm Cha Pallu làm Giám mục hiệu tòa Héliopolis. Ngày 17 tháng 8 năm 1658, Thánh bộ Truyền bá Đức tin công bố sắc lệnh: bổ nhiệm Đức cha Pallu làm Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài và nhận thêm trách nhiệm cai quản các tỉnh liền kề là Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng, Quảng Tây, Tứ Xuyên và nước Lào. Ngày 17 tháng 11 cùng năm, ngài được tấn phong giám mục tại Rô-ma.
Ngày 03 tháng 01 năm 1662, Đức cha Pallu cùng với một đoàn gồm bảy giáo sĩ và hai giáo dân rời cảng Marseille để lên đường đến Viễn Đông. Trong chuyến hành trình đầy gian khổ này, năm người trong đoàn đã ngã bệnh và qua đời. Bản thân Đức cha cũng lâm bệnh. Cuối cùng, ngày 27 tháng 01 năm 1664, họ đến Ayuthia, sau hai năm và 24 ngày kể từ khi họ xuống tàu ở Marseille.
Ở Siam chưa đầy một năm, trước những tin tức về cuộc bách đạo tàn khốc ở Đàng Ngoài và Đàng Trong, cùng với tình hình truyền giáo tại Viễn Đông và công nghị Ayuthia ngày 29 tháng 02 năm 1664 (các ngài đã soạn Huấn dụ Monita ad missionarios), hai vị Đại diện Tông tòa cùng với những người cộng sự của mình đã đồng ý cử Đức cha Pallu trở về Rô-ma để trực tiếp báo cáo tình hình cho Tòa Thánh. Ngài trở lại giáo đô, được yết kiến tân Giáo hoàng Clêmentê IX. Kết quả là một loạt sắc lệnh và tài liệu mang tính bước ngoặt liên quan tới vùng truyền giáo Á Đông ra đời.
Vào ngày 11 tháng 4 năm 1670, Đức cha Pallu xuống tàu trở lại Viễn Đông. Ngày 27 tháng 5 năm 1673, đoàn đã đến Ayuthia sau hơn ba năm hành trình gian khổ và chết chóc, dưới biển trên bộ, nhưng cũng nhờ đó mà người ta thấy rõ được đức tin kiên vững, lòng nhiệt thành truyền giáo, đức dũng cảm, lòng trung thành với Rô-ma và óc tổ chức khôn ngoan của ngài.
Trở lại kinh đô của vua Siam, Đức cha Pallu đã xin được hộ chiếu đi Đàng Ngoài. Vị Đại diện Tông tòa ra khơi vào ngày 21 tháng 8 năm 1674. Sau gần hai tháng lênh đênh trên biển, với tất cả nỗ lực bất chấp nguy hiểm, bão tố, thiếu lương thực, thiếu nước uống, nhưng ngài vẫn không thể đặt chân tới Đàng Ngoài. Tầu bị dạt vào Philippin và vì nhiều lý do khác nhau, Đức cha Pallu bị giải đi Tây Ban Nha qua ngả Mêhicô. Tại Tây Ban Nha, ngài được tuyên bố vô tội.
Ngày 15 tháng 4 năm 1680, Đức Thánh Cha giải nhiệm Đức cha Pallu khỏi chức vụ Đại diện Tông tòa Đàng Ngoài và đặt ngài làm Đại diện Tông tòa Phúc Kiến cùng với quyền quản trị các tỉnh Giang Tây, Quảng Đông, Chiết Giang, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Quảng, Quý Châu, Vân Nam cũng như các đảo Đài Loan, Hải Nam và các đảo trong biển Trung Hoa.
Ngày 29 tháng 01 năm 1681, Đức Cha Pallu đã từ biệt Paris lần cuối cùng. Ngày 04 tháng 7 năm 1682 ngài đặt chân đến Ayuthia lần cuối. Ngày 02 tháng 7 năm 1683, Đức cha Pallu từ Siam đi Trung Hoa. Ngày 14 tháng 01 năm 1684, lần đầu tiên, một Giám mục Đại diện Tông tòa đặt chân lên đất Trung Hoa. Mặc dù sức khỏe suy yếu, nhân sự thiếu thốn và chưa có cơ sở vật chất nhưng ngài vẫn miệt mài với các hoạt động tông đồ, với mối bận tâm về vùng truyền giáo cho Trung Hoa. Trên đường đến Mục Dương thăm cộng sự của mình, vị Giám mục bị kiệt sức. Sau đó cơn sốt xuất hiện và dần tăng lên.
Đức cha qua đời vào ngày Chúa nhật 29 tháng 10 năm 1684. Kết thúc một hành trình sứ vụ tông đồ đúng như ngài đã cam kết ngay trước khi lãnh nhận: “Bậc Giám mục mà tôi thấy mình sắp được nâng lên, là một bậc hoàn thiện, và không tự bằng lòng với những hành động thông thường… Bậc đó không đơn giản xét xem điều gì buộc phải làm…, mà chỉ chuyên tâm đến điều gì là hoàn hảo nhất…”. Ngay từ khi còn sống, Đức cha đã được một số thừa sai dưới quyền xem như một “vị thánh làm phép lạ”.
Ngài được an táng ở Mục Dương, Phúc Kiến. Di cốt của ngài được chuyển tới trụ sở Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris vào tháng 8 năm 1912. Tháng 02 năm 1954, hài cốt của Đức cha Pallu được đem về an táng trong tầng hầm của nhà nguyện của Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris, số 128, rue du Bac, quận 7, Paris và được tôn kính lưu giữ đến tận ngày hôm nay.
Linh mục An-tôn Trần Văn Phú
[1] Tóm lược dựa trên công trình nghiên cứu của tiến sĩ Louis Baudiment xuất bản 1934, Văn khố Hội Thừa Sai Paris bản dịch của Cao Kỳ Hương, được HĐGMVN ấn hành 2022.
Thánh Giacôbê là anh trai của thánh Gioan Tông Đồ được Chúa Giêsu thương mến. Cả hai đều là những người Galilê bốc đồng và nóng nảy, có biệt danh là con của sấm sét. Cả hai đều được Chúa Giêsu kêu gọi, theo tiếng gọi của anh em ông Simon.
Phúc âm (Mt 2020-28) trình thuật lại mẹ của hai con ông Dêbêđê xin Chúa Giêsu cho hai con bà một vị trí cao trong Nước Trời. Câu trả lời của Chúa Giêsu có hai thông điệp quan trọng. Thứ nhất, theo Chúa Giêsu không phải để có được phần thưởng mà chúng ta nhận được. Thứ hai, quyền bính không phải để thống trị, mà để phục vụ.
Thánh Giacôbê bị chặt đầu theo lệnh của Vua Hêrôđê Agrippa I thành Giuđêa; Theo truyền thống Tây Ban Nha, thi thể của ngài được đưa đến Santiago de Compostela, và thu hút rất nhiều khách hành hương trên khắp thế giới. Kinh Thánh có ghi lại việc ông bị tử đạo (Cv 12:1-2).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Dân Israel chạy trốn khỏi khỏi Ai Cập. Khi nhận ra sự thất thoát này, Pharaô đuổi theo họ. Khi thoát khỏi Ai Cập, người Hípri trở nên sợ hãi, phàn nàn: họ thà làm nô lệ ở Ai Cập còn hơn chết trong sa mạc. Ông Môsê bảo đảm với họ: Đừng sợ, hãy vững lòng. Trong cuộc thánh chiến này, Đức Chúa chiến đấu vì bạn.
Có một cuộc xung đột giữa Chúa Giêsu với các kinh sư và người Pharisêu. Chúa Giêsu đã làm nhiều dấu lạ cho thấy ngài là Đấng Mêsia, Người Tôi Trung Được Xức Dầu. Các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái, các kinh sư và người Pharisêu không tin, nhưng vẫn tìm kiếm các dấu lạ. Trong khi những người ngoại giáo, như nữ hoàng phương nam và dân thành Ninivê, lại dễ dàng đón nhận.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Thiên Chúa là Chúa tể càn khôn và giàu lòng thương xót. Ngài phán xử khoan hồng và bao dung với mọi người (Kn 12:13, 16-19). Ngài nhân từ và hay tha thứ (Tv 86:5a). Ngài muốn cứu rỗi tất cả mọi người. Ngài sai Chúa Giêsu, Đấng chọn ở cùng với những người bị gạt ra bên lề xã hội, hầu tất cả đều được ăn trong bàn tiệc vương quốc của Ngài. Đó là sứ điệp mà Chúa Giêsu kể trong dụ ngôn (Mt 13:24-43).
Tình yêu của Thiên Chúa dành cho tội nhân không có nghĩa là Chúa chấp nhận tội lỗi. Chống lại tội lỗi là một phần của tình yêu Thiên Chúa. Giáo Hội là bí tích của tình yêu Thiên Chúa, của ơn cứu độ. Bí tích tình yêu này phải đối mặt với những thách thức nơi các thành viên sống trong tội lỗi và cám dỗ các thành viên phạm tội.
Giáo Hội phải luôn trung thành với Chúa Giêsu, ý thức rằng Chúa Thánh Thần trợ giúp trong những lúc yếu đuối (Rm 8:27). Giáo hội là hạt cải và là men; dẫu nhỏ và không thể thấy được nhưng lại ảnh hưởng. Dù bất cứ huyện gì xảy ra, Giáo hội vẫn hy vọng vào quyền năng và lòng thương xót của Thiên Chúa.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
(Kính gửi đến quý Dì cao niên nhân ngày thế giới ông bà và người cao tuổi)
Đông qua xuân tới hạ về
Thu sang man mác tim nghe bồi hồi
Sao thời gian cứ lặng trôi
Giữa bầu trời nắng bên đồi chị yêu.
Thanh xuân chị vất vả nhiều
Ươm mầm đất tốt tin yêu Mẹ Dòng
Hạt mầm nhân đức hằng mong
Lắng nghe, chia sẻ, yêu thương, nguyện cầu
Thương em thương mãi bền lâu
Chị luôn tận tụy phía sau đỡ đần
Giọt mồ hôi đẫm tình thân
Bao nhiêu hạt ấy chứa ngàn tình thương
Cho em câu hát Thiên Đường
Tương lai tươi sáng kiên cường trổ bông.
Thương em chị hóa hư không
Giờ chiều đang xuống đợi trông ngày về
Chị nghe đã vẹn lời thề
Một lòng chung thủy chẳng nề gian nan
Chị ơi chị có bình an?
Kề lòng bên Chúa xóa tan u sầu!
Em mong chị mãi sống lâu
Cùng em nhịp bước thắm mầu bình yên
Mẹ Dòng luôn mãi hòa hiền
Nơi cùng chia sớt, đoàn viên vui buồn.
Ghi ơn quý chị cội nguồn
Gieo mầm xanh tốt khi còn bé thơ
Cám ơn chị đã đợi chờ
Vì em chị đã bến bờ lo toan
Cho em phấn khởi tâm can
Một đời dâng hiến trào tràn Giêsu.
Người luôn ở đó che dù
Nắng mưa giúp chị đời tu vững vàng.
Chị ơi em hứa sẵn sàng
Bền tâm viết tiếp những trang sử Dòng
Tiếng tăm, danh vọng chẳng mong
Chỉ cần êm ấm ngoài trong đề huề
Nguyện lòng này mãi say mê
Yêu người, yêu Chúa “nhớ về” chị yêu.
Maria Vũ Hiên
Thánh Maria Mađalêna là một trong những vị thánh bị hiểu lầm nhiều nhất. Nhờ cuốn Mật mã Da Vinci của Dan Brown, mà sự quan tâm đến nhân vật lịch sử Maria Mađalêna đã tăng lên. Trong cuốn tiểu thuyết năm 2003, Maria Mađalêna làm dấy lên đúng với một trong nhiều tin đồn tồn tại từ lâu: Maria Mađalêna là vợ của Chúa Giêsu, một điều không có trong Tân Ước.
Những điều chúng ta biết về Maria Mađalêna: Chúa Giêsu đuổi bảy quỷ ra khỏi bà (Lc 8:2); trong khi các môn đệ khác đều bỏ trốn (Mt 26:56), thì Maria Mađalêna vẫn ở lại dưới chân thánh giá cùng với hai người phụ nữ khác (Mc 15:40); và bà là người đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra sau khi Phục sinh. (Ga 20:1-2, 11-18).
Ngay cả khi có những thông tin đáng tin cậy khác, bà dần dần được biết đến như một gái điếm, mặc dù không có đề cập nào về điều này trong các sách Phúc âm. Sự thật là, bà chiếm một vị trí đặc biệt trong các sách Phúc âm. Sau cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, Maria Mađalêna loan báo tin Người sống lại cho thánh Phêrô và các tông đồ khác. Thánh Tôma Aquinô gọi bà là: “Tông đồ của các Tông đồ.”
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
CHỌN LỰA
Trong ruộng lúa, lúa tốt và cỏ lùng mọc lên đan xen lẫn nhau. Theo tự nhiên, cỏ lùng thì mãi mãi vẫn là cỏ lùng, không thể biến đổi thành lúa tốt nhưng tâm hồn con người thì có thể thay đổi, xấu có thể biến thành tốt.
Trong cuộc sống con người, Chúa vẫn để cho người tốt và người xấu cùng hiện diện và lớn lên cùng nhau bởi Ngài là Đấng khoan dung và nhẫn nại. Ngài vẫn chờ đợi và tạo cơ hội để con người có thể quay trở về với Thiên Chúa. Thế nhưng nhiều lúc con người lại chưa đủ lòng bao dung đối với nhau, hay chi li và xét đoán. Ước gì mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn biết mở lòng mình ra để đón nhận và khoan dung với người khác, để tình yêu thương được lan tỏa trong cuộc sống hằng ngày.
Hãy nhìn lại mảnh đất tâm hồn mỗi chúng ta, lúa tốt và cỏ lùng mọc đan xen với nhau, bạn muốn mình là hạt lúa tốt hay là cỏ lùng? Đó là chọn lựa tự do của bạn và bạn phải chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình. Chúa ở trong tâm hồn mỗi người, bạn hãy xin ơn thánh của Ngài và nỗ lực cố gắng để lúa tốt được phát triển còn cỏ lùng bị tàn lụi đi. Hãy là hạt lúa tốt có sức sống mãnh liệt, hãy biết ơn khi được sống trong ân sủng và sự chăm sóc của Chúa để trở nên hạt lúa tốt, hạt lúa có ích cho mọi người, hạt lúa sinh hoa kết quả và hạt lúa biết hy sinh mục nát vì tha nhân, hạt lúa đem lại niềm vui và bình an cho người khác. Còn cỏ lùng là những ích kỉ, ghen ghét và những hành động suy nghĩ chưa tốt thì hãy đẩy nó ra xa, đừng để nó có cơ hội nảy nở, xâm lấn và làm ảnh hưởng đến những hạt lúa tốt.
Mỗi người chúng ta là những hạt giống tốt Thiên Chúa đã gieo vào trần gian này, chúng ta hãy sống sao cho mình giữ được bản chất là lúa tốt và làm nảy sinh nhiều hoa trái thánh thiện. Bông lúa tốt trĩu hạt càng nặng càng cúi mình. Ước gì mỗi người Kitô hữu biết sống khiêm nhường và trao ban như hạt lúa khiêm nhường chịu mục nát đi vì tha nhân, đừng để bản thân chạy theo những xu hướng của thế gian và biến mình trở thành cỏ lùng. Từng ngày chúng ta phải phân định, lựa chọn từng thái độ, hành động… để bản thân sẽ trở thành hạt giống tốt. Chúng ta hãy xin Chúa đồng hành và trợ lực để ta dễ dàng và sẵn sàng chọn lựa những điều làm đẹp lòng Thiên Chúa và đem lại lợi ích cho tha nhân.
Maria Vũ Thị Nữ