TIỆC CƯỚI, ÁO CƯỚI
Bài Tin mừng hôm nay nói tới hai dụ ngôn đó là dụ ngôn tiệc cưới và dụ ngôn chiếc áo cưới. Hai dụ ngôn này có lẽ đã được Chúa Giêsu nói trong hai trường hợp riêng biệt nhưng đã được Thánh sử Matthêu chắp lại thành một đề tài chung vì thấy chúng có liên hệ với nhau.
Dụ ngôn thứ nhất nói về việc Vua mở tiệc cưới cho hoàng tử ám chỉ Thiên Chúa khai mở thời Messia cho Con Một của Ngài nhập Thể. Gia nhân đi mời khách là các ngôn sứ và các tông đồ. Khách quý đã được mời trước không thèm đếm xỉa tới lời mời lại còn làm nhục và giết chết gia nhân đó là người Do Thái. Những người được tụ họp lại từ các ngả đường là các dân ngoại và những người tội lỗi. Cuộc thiêu hủy thành phố của những kẻ bất nhân là sự tàn phá Giêrusalem sau này. Israel từ khước ơn cứu độ thì Tin mừng được loan đi cho khắp mọi dân. Đầy tớ ra khắp các nẻo đường gặp ai bất luận tốt xấu cũng mời vào dự tiệc- đây chính là việc Thiên Chúa mời gọi và ban phát tình thương của Người một cách nhưng không.
Tình yêu của Thiên Chúa thì bao la và không giới hạn. Người mời gọi ta chỉ vì yêu thương ta mà thôi thế nhưng trước lời mời gọi ấy con người đã đáp trả bằng một thái độ vừa thô bạo “không chịu đến”, vừa thô lỗ “hành hạ và giết chết các đầy tớ”. Lý do khiến họ từ chối đó chính là họ nại vào công việc mải mê lo tìm kiếm cơm áo gạo tiền, lo cho cuộc sống vật chất hiện tại mà quên đi việc tìm kiếm Nước Trời. Thiên Chúa không trách chúng ta lo lắng về những điều đó bằng cớ là Ngài đã nhiều lần tìm cách mời gọi chúng ta quay trở về qua nhiều trung gian khác nhau. Đó chính là khi chúng ta cử hành Phụng vụ chúng ta được nghe Lời Chúa nhưng chúng ta có để Lời Chúa biến đổi chúng ta không? hay qua những lời Giáo huấn của Giáo Hội, qua sự chỉ dẫn của những người có trách nhiệm, chúng ta có thái độ nào trước lời nhắc nhở ấy? Chúng ta đón nhận hay phớt lờ, loại trừ?
Sám hối hay hoán cải được diễn tả qua dụ ngôn chiếc áo cưới, là dụ ngôn thứ hai đã được ghi lại. Tình yêu Thiên Chúa luôn tha thiết mời gọi chúng ta mỗi ngày để được vào dự “tiệc cưới Nước Trời” nhưng Ngài không ép buộc mà tôn trọng tự do của chúng ta. Trước lời mời gọi của Thiên Chúa chúng ta có thể đáp lại và cũng có thể phớt lờ. Khi mở tiệc, Chúa mong chúng ta tới dự, khi mời gọi, Chúa mong chúng ta đáp lại, khi bày tỏ tình yêu, Chúa mong chúng ta đền đáp. Tuy nhiên một khi chúng ta đã chấp nhận lời mời chúng ta phải có điều kiện là “mặc áo cưới” khi đi dự tiệc. Nghĩa là chúng ta phải mặc lấy Chúa Kitô, mặc lấy tình yêu, tâm tình của người con hiếu thảo đối với người Cha. Đó cũng chính là ý nghĩa của câu “kẻ được gọi thì nhiều mà người được chọn thì ít”.
Lạy Chúa xin ban ơn trợ giúp để chúng con có tâm hồn nhạy bén và mau mắn trước lời mời gọi của Ngài bẳng thái độ sẵn sàng cộng tác với ơn Chúa!
Maria Thu Thủy
Sáng ngày 13/10, nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của vị Tôi tớ Chúa Đức Giáo hoàng Pio VII, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi sứ điệp đến Đức cha Douglas Regattieri, giám mục Cesena-Sarsina và toàn thể cộng đồng dân sự và giáo hội Cesena-Sarsina, quê hương của Đức Piô VII. Ngài ca ngợi Đức Piô VII là một con người vĩ đại, một mục tử dũng cảm và là một người bảo vệ tận tâm Giáo hội.
Trong sứ điệp, Đức Thánh Cha diễn tả lòng biết ơn và ngưỡng một đối với Đức Piô VII về di sản thiêng liêng và sự chính trực theo tinh thần Tin Mừng mà ngài đã phục vụ trong những thời điểm khó khăn suốt 23 năm triều Giáo hoàng. “Bất chấp những biến động chính trị và xã hội đánh dấu thế kỷ đó, ngài đã tin tưởng phó thác mình cho ý muốn của Thiên Chúa, chấp nhận sự sỉ nhục của cuộc lưu đày với sự đón nhận cách gương mẫu, dâng hiến mọi sự cho Chúa vì lợi ích của Giáo hội.
Đức Thánh Cha nhìn nhận: “Chắc chắn, nếu chúng ta xem xét giai đoạn lịch sử mà Đức Giáo hoàng Piô VII đã sống, chúng ta không thể không ghi nhận sự khôn ngoan tuyệt vời mà nhờ đó ngài có thể trở thành ‘đại sứ hòa bình’ cho những người thực thi quyền lực trần thế. Khi đối diện với một kịch bản chính trị gây tranh cãi, ngài, với sự bình tĩnh của một người luôn tin tưởng vào sự can thiệp quan phòng của Thiên Chúa, đã làm mọi cách để không thất bại trong sứ mạng ‘người bảo vệ và hướng dẫn đàn chiên’ của mình. Và bất chấp những hạn chế bị áp đặt, ngài tiếp tục không chút sợ hãi công bố sức mạnh an ủi của Tin Mừng Chúa Kitô, theo tinh thần của các Mối Phúc: những người xây dựng hoà bình là con cái Thiên Chúa (xem Mt 5.9).
Đức Thánh Cha cầu chúc cho các tín hữu của Giáo phận được khơi dậy niềm say mê trong việc phục vụ người khác và xây dựng một xã hội hài hòa và thể hiện hòa bình như một con đường hy vọng, đối thoại tôn trọng và hòa giải Kitô giáo, nhờ sự bảo vệ từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, sự chuyển cầu của Tôi Tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Piô VII.
Chiến tranh ở Ukraine, chiến tranh ở Gaza. mất đi nhiều sinh mạng. Ngay cả sự thật trong việc đưa tin cũng bị nghiêng lệch trong cuộc chiến truyền thông. Hãy nói không với chiến tranh, không dối trá!
“Mọi cư dân trong xứ hãy run lên đi vì ngày của Đức Chúa đến rồi. Ngày ấy đã kề bên, ngày tối tăm u ám, ngày mây mù tối đen!” (Ge 2:1-2)
“Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là Triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11,19).
Bất chấp “những đám mây đen che phủ một thế giới khép kín”, chúng ta hãy tiếp tục tiến bước trên những con đường hy vọng. (ĐTC Phanxicô)
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Vào cuối buổi tiếp kiến chung sáng thứ Tư 11/10/2023, Đức Thánh Cha bày tỏ đau buồn về cuộc xung đột đang diễn ra giữa Israel và Palestine khiến nhiều người chết. Ngài cầu nguyện cho các gia đình và cho các con tin được trả tự do.
Đức Thánh Cha cũng lo lắng cho người dân sống ở Dải Gaza. Ngài nói: “Những người bị tấn công có quyền tự vệ, nhưng tôi rất lo lắng về cuộc bao vây toàn diện nơi những người Palestine ở Gaza sinh sống”. Ngài khẳng định: “Chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan không giúp đạt được giải pháp cho cuộc xung đột giữa người Israel và người Palestine, mà chỉ khơi dậy hận thù, bạo lực, trả thù và chỉ khiến cả hai đau khổ.
Đức Thánh Cha kết thúc với lời kêu gọi hòa bình, ngài nói: “Trung Đông không cần chiến tranh nhưng cần hòa bình, một nền hòa bình được xây dựng trên đối thoại và lòng can đảm của tình huynh đệ”.
Israel tuyên bố “bao vây toàn diện” Gaza, hứa sẽ cắt nguồn điện, thực phẩm, nước và khí đốt.
Kêu gọi trợ giúp Afghanistan sau các trận động đất
Đức Thánh Cha cũng đặc biệt nhớ đến dân tộc Afghanistan mới bị ảnh hưởng nặng nề bởi trận động đất khiến cho hàng hàng ngàn người chết. Ngài kêu gọi mọi người giúp đỡ cho dân tộc đang bị thử thách này bằng cách đóng góp trong tinh thần huynh đệ, để xoa dịu đau khổ cho người dân và hỗ trợ tái thiết.
Một trận động đất xảy ra vào ngày 8/10/2023 có cường độ 7,6 độ Richter, khiến nó trở thành một sự kiện địa chấn nghiêm trọng và có sức tàn phá lớn. Nó xảy ra ở khu vực phía bắc đất nước, gần dãy núi Hindu Kush, gây ra sự tàn phá trên diện rộng. Thảm họa này đã khiến hàng nghìn người thiệt mạng, bị thương hoặc mất tích và buộc vô số người khác phải rời bỏ nhà cửa để tìm nơi an toàn.
Một trận động đất mạnh 6,3 độ richter khác làm rung chuyển miền Tây Afghanistan ở tỉnh Herat.
Đức Thánh Cha nói rằng trải nghiệm về sự tha thứ đã khiến Thánh Bakhita trở thành một người phụ nữ hòa bình và dịu dàng, tự do và giải thoát. Gương sáng của ngài chỉ cho chúng ta cách giải thoát mình khỏi nỗi sợ hãi và nô lệ, vạch trần thói đạo đức giả và tính ích kỷ của chúng ta, để hòa giải với chính mình và gieo mầm hòa bình trong gia đình và cộng đồng của chúng ta. Chứng tá của ngài dạy chúng ta rằng lòng nhiệt thành tông đồ được thể hiện qua cử chỉ thương xót, vui tươi và khiêm nhường.
Tiếp tục loạt bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ, trong bài giáo lý vào sáng thứ Tư 11/10/2023, Đức Thánh Cha đã trình bày với hơn 25 ngàn tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô chứng tá của Thánh Josephine Bakhita, vị thánh nô lệ Châu Phi đầu tiên.
Thánh Bakhita đã bị bắt cóc và bị biến thành nô lệ khi mới 7 tuổi, đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ về thể xác và tinh thần. Tuy vậy, khi gặp Chúa Kitô, ngài đã trải nghiệm một sự giải thoát nội tâm sâu sắc, ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, có khả năng yêu thương và tha thứ, như Chúa Giêsu đã tha thứ cho những kẻ đã đóng đinh Người.
Buổi tiếp kiến bắt đầu với đoạn Tin Mừng thánh Luca 23,32-34, được công bố bằng một số ngôn ngữ chính.
Có hai tên gian phi cũng bị điệu đi hành quyết cùng với Người. Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái. Bấy giờ Đức Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Rồi họ lấy áo của Người n chia ra mà bắt thăm.
Bài giáo lý của Đức Thánh Cha
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Trong hành trình các bài giáo lý của chúng ta về lòng nhiệt thành tông đồ, hôm nay chúng ta hãy để mình được soi sáng bởi chứng tá của Thánh nữ Josephine Bakhita, một vị thánh người Sudan. Thật không may, từ nhiều tháng Sudan đã bị chia cắt bởi một cuộc xung đột vũ trang khủng khiếp mà ngày nay người ta ít nói đến; chúng ta hãy cầu nguyện cho người dân Sudan để họ được sống trong hòa bình! Nhưng danh tiếng của Thánh Bakhita đã vượt qua mọi ranh giới và đến được với tất cả những người mà căn tính và phẩm giá của họ bị chối bỏ.
“Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng.”
Sinh tại Darfur – thành phố Darfur bị giày xéo! – vào năm 1869, thánh nhân bị bắt cóc đưa đi khỏi gia đình khi mới 7 tuổi và bị làm nô lệ. Những kẻ bắt giữ ngài gọi ngài là “Bakhita”, có nghĩa là “may mắn”. Thánh nhân đã bị bán cho 8 người chủ khác nhau, người này bán cho người khác… Những đau khổ về thể xác và tinh thần mà ngài phải chịu khi còn nhỏ đã khiến ngài mất đi danh tính. Ngài phải chịu đựng sự tàn ác và bạo lực: trên cơ thể ngài có hơn một trăm vết sẹo. Nhưng chính ngài đã làm chứng: “Là một nô lệ, tôi không bao giờ tuyệt vọng, bởi vì tôi cảm nhận được một sức mạnh huyền nhiệm đã hỗ trợ tôi”.
Bí quyết của Thánh Bakhita
Tôi tự hỏi bí quyết của Thánh Bakhita là gì? Chúng ta biết rằng người bị thương tổn thường trở thành người làm người khác thương tổn; người bị áp bức dễ dàng trở thành kẻ áp bức. Ngược lại, ơn gọi của những người bị áp bức là giải phóng bản thân và những kẻ áp bức họ bằng cách trở thành những người phục hồi lòng nhân đạo. Chỉ nơi sự yếu đuối của những người bị áp bức, sức mạnh tình yêu của Thiên Chúa vốn giải phóng cả hai (người bị áp bức và người áp bức) được biểu lộ.
Thánh Bakhita diễn đạt sự thật này rất hay. Một ngày nọ, người giám hộ của ngài đưa cho ngài một cây Thánh Giá nhỏ, và là người chưa bao giờ sở hữu bất cứ thứ gì, ngài đã kiên quyết gìn giữ báu vật của mình. Khi nhìn vào Thánh Giá, thánh nhân cảm nghiệm một sự giải phóng nội tâm sâu sắc bởi vì ngài cảm thấy được thấu hiểu và được yêu thương, do đó đến lượt ngài, ngài có thể cảm thông và thương yêu. Thực ra, ngài sẽ nói: “Tình yêu của Thiên Chúa luôn đồng hành với tôi một cách huyền nhiệm… Chúa đã yêu thương tôi rất nhiều: chúng ta phải yêu thương mọi người… Chúng ta phải có lòng cảm thương!”.
Thực sự, cảm thương có nghĩa là vừa đau khổ với những nạn nhân của biết bao sự vô nhân đạo đang hiện diện trên thế giới, vừa thương cảm những người phạm sai lầm và bất công, không bằng cách biện minh cho họ nhưng là khiến họ trở nên nhân đạo hơn. Đây là sự dịu dàng mà thánh nhân dạy chúng ta, giúp có tình người hơn. Khi chúng ta đi vào logic đấu tranh, của chia rẽ giữa chúng ta, những tình cảm tồi tệ, người này chống lại người kia, chúng ta đánh mất lòng nhân đạo. Và nhiều khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần lòng nhân đạo, cần nhân bản hơn. Và đây là công việc mà Thánh Bakhita dạy chúng ta: nhân bản hóa, nhân bản hóa chính mình và nhân bản hóa người khác.
Tha thứ
Thánh Bakhita, người đã trở thành Kitô hữu, đã được biến đổi bởi những lời của Chúa Kitô mà ngài suy niệm hàng ngày: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đó là lý do tại sao ngài nói: “Nếu Giuđa xin Chúa Giêsu tha thứ thì ông ấy cũng sẽ được thương xót”. Chúng ta có thể nói rằng cuộc đời của Thánh Bakhita đã trở thành một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Thật là điều tuyệt vời khi nói về một người rằng “họ có khả năng tha thứ”. Thánh nhân luôn có khả năng làm điều này: cuộc sống của ngài là một dụ ngôn hiện sinh về sự tha thứ. Tha thứ bởi vì rồi chúng ta sẽ được tha thứ. Anh chị em đừng quên điều này: tha thứ, đó là sự dịu dàng của Thiên Chúa đối với tất cả chúng ta.
Sự tha thứ đã giải thoát ngài. Sự tha thứ trước tiên nhận được qua tình yêu thương xót của Thiên Chúa, và sau đó sự tha thứ được ban đã khiến ngài trở thành một người phụ nữ tự do, vui vẻ, có khả năng yêu thương.
Phục vụ
Thánh Bakhita có thể sống phục vụ không phải như một sự nô lệ mà như một biểu hiện của sự tự do trao tặng bản thân. Điều này rất quan trọng: biến mình thành đầy tớ – đã bị bán làm nô lệ – sau đó ngài tự do lựa chọn trở thành đầy tớ, mang lấy gánh nặng của người khác trên vai.
Bằng gương sáng của ngài, Thánh Josephine Bakhita, chỉ cho chúng ta con đường để cuối cùng thoát khỏi cảnh nô lệ và sợ hãi. Ngài giúp chúng ta vạch trần những thói đạo đức giả và tính ích kỷ của mình, vượt qua những oán giận và xung đột. Ngài khuyến khích chúng ta luôn luôn.
Tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người
Anh chị em thân mến, sự tha thứ không lấy đi bất cứ thứ gì nhưng tăng thêm phẩm giá cho con người, nó khiến chúng ta hướng cái nhìn từ chính mình sang người khác, để thấy họ cũng mong manh như chúng ta, nhưng luôn là anh chị em trong Chúa. Sự tha thứ là nguồn gốc của lòng nhiệt thành trở thành lòng thương xót và kêu gọi chúng ta đến với sự thánh thiện khiêm nhường và vui tươi, giống như thánh Bakhita.
Nạn đói và hủy diệt đang hủy hoại những đứa trẻ trên trái đất. Chúng ta cầu nguyện để có lương thực hàng ngày và cầu nguyện cho công lý giữa các thế hệ, đặc biệt là cho các nạn nhân của chiến tranh và bạo lực.
Đức Chúa các đạo binh phán: Vì này, ngày ấy sắp đến, đốt cháy như hỏa lò, khi mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Nhưng đối với những ai kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên mang theo các tia sáng chữa lành bệnh. (Mal 3:19-20)
Chúa Giêsu nói: “Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11:13).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Từ khi chiến tranh bắt đầu tại Dải Gaza hôm 7/10/2023, nơi Israel tấn công trả đũa các cuộc tấn công khủng bố của Hamas, Đức Thánh Cha đã hai lần gọi điện thoại cho cha Gabriel Romanelli, cha sở của giáo xứ Công giáo Latinh duy nhất ở Gaza, để biết về tình hình các Kitô hữu ở đây.
Cha Romanelli, người Argentina, hiện đang bị kẹt lại ở Bêlem bởi vì không ai được ra vào Dải Gaza, nhưng ngài thường xuyên liên lạc với các tín hữu. Cha cho biết Đức Thánh Cha Phanxicô liên tục theo dõi những gì đang xảy ra ở Gaza, liên lạc với cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bé ở đây qua điện thoại.
Sự quan tâm của Đức Thánh Cha đối với cộng đoàn Kitô hữu bé nhỏ ở Gaza
Cha Romanelli chia sẻ với Vatican News hôm 10/10/2023: “Đức Thánh Cha đã gọi điện cho tôi cách đây vài phút. Ngài bày tỏ sự gần gũi và những lời cầu nguyện của ngài và chúng tôi cảm ơn ngài vì lời kêu gọi ngừng bắn và chống lại mọi bạo lực, mọi khủng bố và mọi chiến tranh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã muốn bày tỏ sự gần gũi của ngài và bây giờ ngài sắp gọi điện trực tiếp cho cộng đoàn đó với cha phó của tôi với những người tị nạn trong giáo xứ”.
Có khoảng 150 người được tiếp đón tại giáo xứ Gaza, những người đã mất nhà cửa hoặc đang tìm kiếm một nơi an toàn khỏi các vụ đánh bom, ngay cả khi các cuộc đột kích liên quan đến toàn bộ Dải Gaza. Cha Romanelli cho biết không có người chết và không có thiệt hại trong cộng đoàn Kitô giáo. Trên khắp Gaza, 770 người đã thiệt mạng và hơn 4.000 người bị thương do các cuộc tấn công của Israel nhằm đáp trả các cuộc tấn công khủng bố của Hamas vào ngày 7/10/2023.
Hôm 9/10/2023 Đức Thánh Cha cũng đã gọi điện cho cha sở giáo xứ ở Gaza. Ngài muốn biết người dân và giáo xứ đang hoạt động như thế nào, và đã ban phép lành để mọi người có thể cảm nghiệm được sự gần gũi của Giáo hội.
Sự trợ giúp của cộng đoàn Kitô giáo
Cha Romanelli cũng cho biết cộng đoàn Kitô giáo đang làm những gì có thể làm trong tình huống này. Cộng đoàn tiếp đón những người tị nạn mất nhà cửa hay muốn tìm nơi có thể bình an hơn. Cha cho biết, “các cơ cấu của Giáo hội Công giáo luôn được tôn trọng, bởi vì chúng tôi không tham gia vào bất kỳ vấn đề chính trị hay quân sự nào và nhiệm vụ của chúng tôi là sứ mạng hòa bình, sứ mạng nhân đạo nơi chúng tôi có giáo dân, nơi chúng tôi có trẻ em khuyết tật và những người họ cần giúp đỡ hoặc bị bỏ rơi, với các nữ tu của Mẹ Têrêsa và các cha của Ngôi Lời Nhập Thể. Các trường học của chúng tôi luôn là nơi chào đón mọi người”.
Tình hình rất nghiêm trọng
Tuy nhiên, cha cho biết tình hình rất nghiêm trọng. Đã ba ngày không có điện. Họ chỉ còn lại một ít nhiên liệu và sử dụng nó để sạc lại pin vì không được tiếp tế nhiên liệu. Hiện tại chưa thiếu thức ăn hoặc nước uống nhưng cha không biết sẽ tiếp tục được trong bao lâu, bởi vì họ luôn dự trữ hàng hóa, luôn lường trước các vấn đề. Nhưng cung cấp cho gần 150 người, cha không biết điều đó có thể tiếp tục được trong bao lâu.
Thiên Chúa là ai? Chúng ta tương quan với Chúa như thế nào?
Ông Giôna cầu nguyện: “Con biết rằng Ngài là Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm giận, giàu tình thương và hối tiếc vì đã giáng phạt” (Gn 4:2).
Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Cha, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến” (Lc 11:2).
Với Chúa là Cha chúng ta, chúng ta liên hệ như con cái của Ngài, với sự quen thuộc và thân mật, với sự tin tưởng và kiên trì, cũng như với sự dịu dàng và yêu thương.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Lời mời gọi làm môn đệ là ơn gọi hiệp thông và truyền giáo. Tất cả đều được mời gọi hiệp nhất trong tình yêu với Thiên Chúa và với nhau. Tất cả đều được mời gọi trở nên thánh. Trong ơn gọi phổ quát này, các ơn gọi khác nhau trong dân Chúa duy nhất có một vai trò cụ thể. (PCP II, 402-403)
Một số có khuynh hướng phục vụ tha nhân (Dụ ngôn người Samari nhân hậu hôm qua). Ông Giôna được giao nhiệm vụ rao giảng về sự thống hối cho dân thành Nineveh (Gn 3:1-10). Những người khác thì tập trung vào tình yêu Thiên Chúa, hướng tới một đời sống chiêm niệm hơn (Lc 10:38-42): Còn Maria đã chọn phần tốt hơn, là ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời Người.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Trong Thánh lễ cử hành vào chiều ngày 7/10/2023, tại hang đá Đức Mẹ Lộ Đức trong vườn Vatican, để mừng kính Tổng lãnh Thiên thần Micae, bổn mạng của Lực lượng Hiến binh Vatican, Đức Thánh Cha nói rằng cuộc sống giống như một vườn nho và chúng ta phải bảo vệ cuộc sống của mỗi người chúng ta để không có cành nào sâu bệnh.
Trong bài giảng, Đức Thánh Cha so sánh công việc của các hiến binh với một vườn nho trong đó kẻ thù, như đã nêu trong bài đọc thứ nhất trích từ Sách Ngôn sứ Isaia (Is 5,1-7), theo phụng vụ của Chúa nhật XXVII Mùa Thường Niên, vào ban đêm đi hủy hoại và phá hủy những gì được trồng ở đó. Vườn nho còn là hình ảnh cuộc sống của mỗi người, nơi sự thiện và cái ác chiến đấu chống lại nhau.
Người không chiến đấu không phải là Kitô hữu
Đức Thánh Cha nói: “Chúa đã trồng tất cả chúng ta như nhánh của một vườn nho tốt, nhưng kẻ thù luôn đến để hủy hoại chúng ta. Đây là cuộc đấu tranh hàng ngày: của anh chị em, của tôi và của tất cả chúng ta. Người không chiến đấu không phải là Kitô hữu, người không bị cám dỗ không phải là Kitô hữu”.
Mỗi người phải bảo vệ vườn nho
Đức Thánh Cha nói tiếp rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi, nhưng chúng ta muốn tiến về phía trước và do đó chúng ta phải chiến đấu chống lại ma quỷ đang muốn xâm nhập vào cuộc sống của chúng ta. Nhắc rằng Tổng lãnh Thiên thần Micae đã giúp đỡ trong trận chiến này, Đức Thánh Cha mời gọi: “Chúng ta phải cẩn thận và bảo vệ vườn nho: vườn nho của mỗi người trong số anh chị em, vườn nho của gia đình anh chị em, của con cái anh chị em và vườn nho ở đây, tại Vatican, để không có cành cây sâu bệnh nào lọt vào”.
Ma quỷ cố gắng giành chiến thắng bằng cách hủy diệt
Cuối cùng, nhắc lại đoạn Tin Mừng Thánh Matthêu (Mt 21,33-43) trình bày dụ ngôn về những người nông dân quyết định chiếm đoạt những gì đã được giao phó cho họ, Đức Thánh Cha nói rằng đoạn Tin Mừng dạy chúng ta rằng khi ma quỷ muốn chiếm hữu một vật gì thì chúng sẽ phá hủy nó. Một cuộc chiến muốn hủy diệt mọi thứ là một cuộc chiến bẩn thỉu, Đức Thánh Cha nhận xét, và ma quỷ cố gắng giành chiến thắng bằng cách hủy diệt, nhưng Thánh Thiên thần Micae đã giúp chúng ta đánh đuổi nó.