Các tham dự viên Thượng Hội Đồng hy vọng rằng những tháng tới, vốn tách biệt họ khỏi phiên họp thứ hai vào tháng 10 năm 2024, sẽ cho phép mọi người tham gia một cách cụ thể vào tính năng động của sự hiệp thông sứ mạng được biểu thị bằng từ ngữ “sinodo” (chung một con đường). Đây không phải là một hệ tư tưởng mà là một kinh nghiệm bắt nguồn từ Truyền thống Tông đồ.
Thư gửi dân Chúa của Đại hội Thường kỳ lần thứ XVI – Thượng Hội đồng Giám mục
Anh chị em thân mến,
Khi công việc của kỳ họp đầu tiên của Đại hội Thường kỳ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục sắp kết thúc, chúng tôi muốn cùng với tất cả anh chị em tạ ơn Chúa vì trải nghiệm đẹp đẽ và phong phú mà chúng ta vừa trải qua. Chúng tôi đã sống thời gian ân phúc này trong sự hiệp thông sâu sắc với tất cả anh chị em. Chúng tôi đã được anh chị em nâng đỡ bằng lời cầu nguyện, đã mang theo những kỳ vọng, những câu hỏi và thậm chí cả những nỗi sợ hãi của anh chị em. Hai năm đã trôi qua kể từ khi, theo yêu cầu của Đức Thánh Cha Phanxicô, một tiến trình lắng nghe và phân định lâu dài đã bắt đầu, mở ra cho tất cả dân Chúa, không một ai bị loại trừ, “cùng nhau bước đi”, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, như các môn đệ thừa sai bước theo Chúa Kitô Giêsu.
Kỳ họp vốn đã đưa chúng tôi đến quy tụ với nhau ở Rôma từ ngày 30 tháng 9 tạo thành một giai đoạn quan trọng trong tiến trình này. Theo nhiều cách, đó là một trải nghiệm chưa từng có. Lần đầu tiên, theo lời mời gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô, những người, nam cũng như nữ, nhờ bí tích rửa tội, được ngồi cùng một bàn để tham gia không chỉ vào các cuộc thảo luận mà còn vào các cuộc bỏ phiếu của Đại hội Thượng Hội đồng Giám mục lần này. Cùng nhau, trong sự bổ túc cho nhau về ơn gọi, đặc sủng và sứ vụ của mình, chúng tôi đã chăm chú lắng nghe Lời Chúa cũng như lắng nghe kinh nghiệm của người khác. Sử dụng phương pháp trò chuyện trong Chúa Thánh Thần, chúng tôi khiêm tốn chia sẻ sự phong nhiêu và nghèo nàn từ các cộng đoàn của chúng tôi trên khắp các châu lục, cố gắng nhận ra những gì Chúa Thánh Thần muốn nói với Giáo hội ngày nay. Do đó, chúng tôi cũng đã trải nghiệm được tầm quan trọng của việc thúc đẩy trao đổi lẫn nhau giữa truyền thống Latinh và các truyền thống Kitô giáo Đông phương. Sự tham gia của các đại biểu huynh đệ từ các Giáo hội và cộng đoàn giáo hội khác đã giúp các cuộc tranh luận của chúng tôi trở nên phong phú một cách sâu sắc.
Kỳ đại hội của chúng tôi diễn ra trong bối cảnh một thế giới đang gặp khủng hoảng, nơi những vết thương và sự bất bình đẳng đầy tai tiếng đã vọng lên một cách đau đớn trong trái tim chúng ta và khiến cho công việc của chúng tôi có một sức nặng đặc biệt, nhất là khi một số người trong chúng tôi đến từ những quốc gia nơi chiến tranh đang hoành hành. Chúng tôi cầu nguyện cho các nạn nhân của bạo lực tàn sát, không quên tất cả những người bị cảnh nghèo và nạn tham nhũng ném vào con đường di cư nguy hiểm. Chúng tôi đã đảm bảo tình liên đới và sự dấn thân của chúng tôi cùng với những con người, nữ cũng như nam, đang làm việc với tư cách những người kiến tạo công lý và hòa bình ở mọi nơi trên thế giới.
Theo lời mời của Đức Thánh Cha, chúng tôi đã dành một không gian quan trọng cho sự thinh lặng, để khuyến khích việc lắng nghe một cách tôn trọng và ước muốn hiệp thông trong Chúa Thánh Thần giữa chúng tôi. Trong buổi canh thức đại kết khai mạc, chúng ta đã cảm nghiệm được niềm khao khát hiệp nhất ngày càng lớn lên trong việc thầm lặng chiêm ngưỡng Đức Kitô chịu đóng đinh. “Thật vậy, thập giá là ngai tòa duy nhất của Đấng đã hiến mạng sống mình để cứu rỗi thế gian, đã giao phó các môn đệ của mình cho Chúa Cha, để ‘tất cả nên một’ (Ga 17:21). Hiệp nhất vững chắc trong niềm hy vọng mà sự phục sinh của Chúa Kitô mang lại cho chúng ta, chúng tôi đã phó thác cho Chúa Ngôi nhà chung của chúng ta, nơi mà tiếng kêu la của trái đất và của người nghèo ngày càng vang lên khẩn thiết: ‘Laudate Deum!’”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc lại ngay từ khi bắt đầu công việc của chúng tôi.
Ngày qua ngày, chúng tôi nghe thấy lời kêu gọi cấp bách về sự hoán cải mục vụ và truyền giáo. Bởi vì ơn gọi của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng, không phải bằng cách tập trung vào chính mình, nhưng bằng cách phục vụ tình yêu vô hạn mà Thiên Chúa yêu thương thế giới (x. Gioan 3:16). Khi một số người được hỏi về những gì họ mong đợi từ Giáo hội nhân dịp Thượng Hội đồng lần này, vài người vô gia cư sống gần Quảng trường Thánh Phêrô đã trả lời: “Tình yêu!”. Tình yêu này phải luôn luôn là trái tim nhiệt thành của Giáo hội, tình yêu Ba Ngôi và Thánh Thể, như Đức Thánh Cha đã nhắc lại ở nửa chặng đường kỳ họp của chúng tôi, vào ngày 15 tháng 10, qua thông điệp về Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Chính “niềm tin tưởng” mang lại cho chúng tôi sự táo bạo và tự do nội tâm mà chúng tôi đã trải nghiệm, không ngần ngại bày tỏ những điểm hội tụ cũng như những khác biệt, những ước muốn và những thắc mắc của chúng tôi một cách tự do và khiêm tốn.
Và bây giờ? Chúng tôi hy vọng rằng những tháng tới, vốn tách biệt chúng tôi khỏi phiên họp thứ hai vào tháng 10 năm 2024, sẽ cho phép mọi người tham gia một cách cụ thể vào tính năng động của sự hiệp thông sứ mạng được biểu thị bằng từ ngữ “sinodo” (chung một con đường). Đây không phải là một hệ tư tưởng mà là một kinh nghiệm bắt nguồn từ Truyền thống Tông đồ. Như Đức Thánh Cha đã nhắc nhở chúng ta khi bắt đầu quá trình này: “Sự hiệp thông và sứ mạng có nguy cơ vẫn là những thuật ngữ hơi trừu tượng nếu Giáo hội không vun trồng sự hiệp thông và sứ mạng ấy nơi thực hành nhằm cụ thể hóa tính hiệp hành (…), thúc đẩy sự tham gia thực sự của mọi người” (ngày 9 tháng 10 năm 2021). Có nhiều thách thức và nhiều câu hỏi: báo cáo tóm tắt của kỳ đại hội đầu tiên sẽ làm rõ các điểm đã đạt được đồng thuận, nêu bật những vấn đề còn bỏ ngỏ và chỉ ra cách tiếp tục công việc.
Để tiến tới trong việc phân định của mình, Giáo hội tuyệt đối cần lắng nghe mọi người, bắt đầu từ những người nghèo nhất. Điều này đòi hỏi một hành trình hoán cải từ phía Giáo hội, cũng là một hành trình ca ngợi: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn ” (Lc 10:21)! Đó là lắng nghe những người không có quyền lên tiếng trong xã hội hoặc những người cảm thấy bị loại trừ, thậm chí rời khỏi Giáo hội. Đó là lắng nghe các nạn nhân của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức, đặc biệt là ở một số vùng, những người dân bản địa có nền văn hóa bị chế giễu. Trên hết, Giáo hội trong thời đại chúng ta có nhiệm vụ lắng nghe, trên tinh thần hoán cải, các nạn nhân của sự lạm dụng do các thành viên trong thân thể giáo hội gây ra, cũng như cam kết một cách cụ thể và trên bình diện cơ cấu để đảm bảo rằng điều này không xảy ra nữa.
Giáo hội cũng cần lắng nghe giáo dân, nam cũng như nữ, tất cả những ai được kêu gọi nên thánh nhờ ơn gọi rửa tội: chứng từ của các giáo lý viên, những người trong nhiều tình huống là những người đầu tiên loan báo Tin Mừng; sự đơn sơ và sinh động của trẻ em, sự nhiệt tình của giới trẻ, những câu hỏi và lời kêu gọi của họ; những giấc mơ của người già, sự khôn ngoan và ký ức của họ. Giáo hội cần lắng nghe các gia đình, những mối quan tâm của họ về giáo dục, những chứng từ Kitô giáo mà họ đưa ra trong thế giới ngày nay. Giáo hội cần phải chào đón tiếng nói của những người mong muốn được tham gia vào các sứ vụ giáo dân hoặc vào các cơ quan tham gia phân định và đưa ra quyết định.
Để tiến tới trong việc phân định hiệp hành, Giáo hội đặc biệt cần thu thập nhiều hơn nữa những lời nói và kinh nghiệm của các thừa tác viên thụ phong: các linh mục, những cộng tác viên đầu tiên của các giám mục, những người mà thừa tác vụ bí tích của họ không thể thiếu đối với đời sống của toàn thân thể giáo hội; các phó tế, qua thừa tác vụ của mình, thể hiện mối quan tâm của toàn thể Giáo hội trong việc phục vụ những người dễ bị tổn thương nhất. Giáo hội cũng phải để cho mình được thách thức bởi tiếng nói ngôn sứ của đời sống thánh hiến, như người canh gác tỉnh thức trước những lời mời gọi của Chúa Thánh Thần. Và Giáo Hội cũng phải chú ý đến những người không chia sẻ đức tin với mình nhưng tìm kiếm sự thật, và nơi họ Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho “mọi người khả năng được tháp nhập, theo cách mà Thiên Chúa biết, vào mầu nhiệm Vượt Qua” (Gaudium et spes 22) vẫn hiện diện và hoạt động.
“Thế giới mà chúng ta đang sống, cũng là thế giới mà chúng ta được kêu gọi yêu thương và phục vụ ngay cả trong những mâu thuẫn của nó, đòi hỏi Giáo hội phải tăng cường sự hiệp lực trong mọi lĩnh vực sứ mạng của mình. Con đường hiệp hành đích thị là con đường mà Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội của thiên niên kỷ thứ ba” (Đức Thánh Cha Phanxicô, ngày 17 tháng 10 năm 2015). Chúng ta không được ngần ngại đáp lại lời kêu gọi này. Đức Trinh Nữ Maria, người đầu tiên trong cuộc hành trình, đồng hành cùng chúng ta trong cuộc hành hương của chúng ta. Trong niềm vui cũng như nỗi buồn, Mẹ chỉ cho chúng ta Con của Mẹ và mời gọi chúng ta tin tưởng. Chính Người, Chúa Giêsu, là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta!
Vatican, ngày 25 tháng 10 năm 2023
“Ngay cả khi con người chúng ta được bao quanh một vũ trụ đã xuất hiện hàng trăm tỷ thiên hà, chúng ta cũng đã khám phá ra các tế bào chiều ngang (trường hợp của con người) là 250.000 inch” (J. Davis). Tuy nhiên, chúng ta cũng có khả năng loại trừ chính mình và thế giới chúng ta đang sống đó là: hai cuộc chiến tranh thế giới vào nửa đầu thế kỷ 20.
Chúa Giêsu hỏi chúng ta: Bạn có thể giải thích những điềm báo của trái đất và bầu trời. Tại sao bạn không thể giải thích thời đại này? (Lc 12:56). Thánh Phaolô cho chúng ta cái nhìn thiêng liêng sâu sắc của ngài: “Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (Rm 7:24-25)
Giáo Hội hướng dẫn chúng ta ngày nay: Chúng ta có trách nhiệm đọc các dấu chỉ thời đại và giải thích chúng dưới ánh sáng Tin Mừng.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
HIện nay có rất nhiều xung đột. Hãy nghĩ đến những trường hợp ở Ukraine, Gaza, Myanmar hoặc vùng biển Tây Philippine. Thông thường chúng ta muốn hòa bình, chứ không phải xung đột. Tuy nhiên, xung đột có giá trị nào đó. Nó giúp chúng ta xác định quan điểm của mình khi đối mặt với các giá trị hoặc những hoạt động không tương thích. Quan điểm của chúng ta trong các tình hình xung đột nêu trên là gì? Quan điểm của chúng ta có dựa trên chân lý, công lý hay các giá trị Phúc Âm không? Chúa Giêsu nói: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hoà bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết, không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ” (Lc 12:51). Một người không thể vừa là thành viên của Nước Thiên Chúa, vừa là con cái của Satan.
Thánh Phaolô viết: Giờ đây anh em đã được giải thoát khỏi tội lỗi, anh em thu được kết quả là được trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời. (Rm 6:22).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Nhiều chính trị gia rất ồn ào và lãng phí trong chiến dịch tranh cử các vị trí lãnh đạo trong xã hội. Khi được trúng cử có nghĩa là có nhiều khả năng sở hữu với tiền bạc, ảnh hưởng và quyền lực hơn- chúng ta hy vọng và cầu nguyện cho việc biết dùng quyền vì lợi ích chung.
Chúa Giêsu nói : “Ai được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều, và ai được giao phó nhiều thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn” (Lc 12:39-48). Điều này áp dụng cho những người sẽ thực hiện quyền và đặc quyền bầu cử của mình và sau cuộc bầu cử, dành cho những người sẽ được đắc cử. Dù có bầu cử hay không, Chúa Giêsu vẫn nói điều này với những người có trách nhiệm trong gia đình, lãnh đạo tôn giáo, thương gia hoặc bất kỳ lãnh vực nào khác.
Chúa Giêsu bảo đảm với người quản gia trung tín và có tầm nhìn xa: Chủ sẽ giao cho người quản gia quản lý toàn bộ tài sản của mình. Thánh Phaolô vui mừng khi chúng ta lựa chọn đúng: Tạ ơn Thiên Chúa. Trước kia anh em là nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em trở thành nô lệ của sự công chính (Rm 6:18).
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Chắc hẳn đối với mỗi người Công Giáo, nhất là với những ai có lòng yêu mến dành cho Mẹ Maria thì lời kinh Mân Côi đã trở nên rất đỗi quen thuộc và trở thành một việc đạo đức bình dân, góp phần thăng tiến đời sống tâm linh của mỗi Kitô hữu. Mặc dù kinh Mân Côi là lời kinh dễ đọc, dễ nhớ nhưng không phải Kitô hữu nào cũng hiểu hết được ý nghĩa và tầm quan trọng của lời kinh. Kinh Mân Côi như là một bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giêsu, từ biến cố nhập thể cho đến khi Ngài chị chết và phục sinh.
Trước thời đại công nghệ số, người trẻ dường như bị cuốn theo công nghệ. Họ không còn giờ cho việc đọc kinh Mân Côi. Người trẻ đưa ra bao nhiêu lý do để bao biện cho việc không có thời gian để đọc kinh Mân Côi. Thêm một nguyên nhân quan trọng nữa là truyền thống các gia đình đọc kinh Mân Côi vào buổi tối không còn giữ được như xưa. Chúng ta vẫn thường nói gia đình là cái nôi của đức tin. Thế nhưng cái nôi ấy dường như không còn được quan tâm ở một số gia đình bởi cha mẹ cũng dần quên đi trách nhiệm của mình và không đủ lòng tin vững vàng để nuôi dưỡng đức tin cho con cái.
Dù thế nào thì chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng cuộc sống nhiều thay đổi vẫn không làm giảm đi lòng tin vào Thiên Chúa và lòng mến dành cho Mẹ Maria ở nơi nhiều người trong mọi tầng lớp trong xã hội; chúng ta vẫn thường bắt gặp hình ảnh trên tay là tràng chuỗi Mân Côi nơi vỉa hè, công trường, nhà thờ…. Ở bất cứ đâu chúng ta đều có thể cầu nguyện bằng kinh Mân Côi. Triết gia Jacques Maritian đã từng nói về việc đọc kinh Mân Côi như là một hình thức “chiêm niệm bên vệ đường”. Kinh Mân Côi không chỉ không giới hạn về thời gian, không gian, mà còn không giới hạn người đọc. Tất cả mọi người ai cũng đều có thể đọc, từ một em nhỏ cho đến các cụ ông cụ bà. Bởi là ai thì giá trị của lời kinh cũng không thay đổi. Mẹ vẫn luôn rộng rãi ban mọi ơn lành cho tất cả những ai có lòng yêu mến Mẹ. Quả thực, với lời kinh Mân Côi, chúng ta tin rằng Mẹ Maria luôn cầu bầu trước tòa Chúa cho hết thảy mọi người.
Lạy Mẹ Maria, thế giới của chúng con đang bị thao túng bởi mặt trái của những phương tiện hiện đại, làm cho tâm hồn chúng con ngày càng bị vẩn đục và dần đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa. Xin Mẹ giúp chúng con biết nhìn nhận ra thực tại và thay đổi chính mình, đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa và yêu mến Mẹ nhiều hơn qua việc đọc kinh Mân Côi. Xin Mẹ luôn nâng đỡ, đông hành với từng người, từng gia đình của chúng con, để chúng con mỗi ngày luôn biết sống phó thác cậy trông vào tình yêu và sự quan phòng của Chúa và Mẹ Maria từ ái. Amen.
Maria Kim Duyên
“Tham gia, trách nhiệm, và quyền bính: Đâu là những tiến trình, cấu trúc và cơ chế nào trong một Giáo hội hiệp hành mang tính sứ mạng?” là chủ đề của bài suy tư thần học do linh mục Dario Vitali, Điều phối viên của các chuyên gia thần học và cũng là Giáo sư Khoa Thần học tại Đại học Giáo hoàng Gregorian trình bày trong phiên họp khoáng đại thứ XII giới thiệu phần B3 của Tài liệu Làm việc vào hôm thứ Tư ngày 18.10 vừa qua.

SUY TƯ THẦN HỌC CỦA CHA DARIO VITALI
TẠI PHIÊN HỌP KHOÁNG ĐẠI THỨ XII
THAM GIA, TRÁCH NHIỆM, VÀ QUYỀN BÍNH: ĐÂU LÀ NHỮNG TIẾN TRÌNH, CẤU TRÚC VÀ CƠ CHẾ NÀO TRONG MỘT GIÁO HỘI HIỆP HÀNH MANG TÍNH SỨ MẠNG?
1. “Trong Đức Kitô, Giáo Hội như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất giữa loài người” (LG 1).
Tôi lấy trích dẫn này làm khuôn khổ để kết cấu suy tư thần học về điểm B.3, vốn tập trung vào “Tham gia, trách nhiệm, và quyền bính”. Sự tham gia trước hết được Công đồng Vatican II nhấn mạnh thực ra không phải là sự tham gia của các cá nhân, mà là của toàn thể Giáo hội, được hiểu Dân Chúa trên hành trình hướng tới việc hiện thực hóa Nước Chúa. Chưa bao giờ như hiện nay – tôi muốn ám chỉ những ngày bi thảm này khi hòa bình dường như bị treo lơ lửng – nhân loại lại cần đến chứng từ mạnh mẽ và thuyết phục của một Giáo hội vốn là dấu chỉ và khí cụ hòa bình giữa các quốc gia. Như lời của Đức Thánh Cha Phanxicô, “một Giáo hội hiệp hành giống như một biểu ngữ được giương cao giữa các dân nước (x. Is 11,12)… Là một Giáo hội ‘sánh bước’ cùng con người, tham gia vào những khó khăn của lịch sử, ấp ủ giấc mơ rằng việc tái khám phá phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và chức năng phục vụ của quyền bính cũng có thể giúp xã hội dân sự tự xây dựng trong công lý và tình huynh đệ, tạo ra một thế giới tươi đẹp hơn và xứng đáng hơn cho các thế hệ mai sau”.
Một Giáo hội hướng ra bên ngoài, một “bí tích cứu độ phổ quát” cho thế giới (LG 48), luôn được mời gọi trở thành và nghĩ về chính mình trong nội tâm như “bí tích của sự hiệp nhất cứu độ phổ quát này” (LG 9). Nhưng liệu phạm trù này, vốn giải thích chắc chắn chiều kích mầu nhiệm của Giáo hội, có thể được áp dụng cho các chủ đề như “sự tham gia, trách nhiệm, quyền bính” chăng? Chương I của Hiến chế Lumen Gentium đã mở ra những chân trời quan trọng theo hướng này. Số 7 có nói rằng “trong việc xây dựng nhiệm thể Đức Kitô có sự đa dạng về các thành viên và chức năng”.
2. Nhưng chính trong Chương II của Hiến chế, các chủ đề về tham gia có một diện mạo cụ thể, khởi đi từ việc mô tả Giáo hội như là Dân Chúa, “giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh, những người xưa chưa phải là một dân, nay đã là dân của Thiên Chúa” (LG 9).
Tất cả chúng ta đều biết rằng chương về Dân Chúa tiêu biểu cho “cuộc cách mạng Copernic” trong giáo hội học công đồng. Việc xen kẽ chương về Dân Chúa trước chương về Phẩm trật đã phá vỡ kim tự tháp giáo hội được xây dựng qua nhiều thế kỷ: đi trước các chức năng là phẩm giá của người đã lãnh phép Rửa; đi trước những khác biệt vốn thiết lập các phẩm trật, là sự bình đẳng của con cái Thiên Chúa. Danh hiệu lớn nhất của Giáo hội không phải là giáo hoàng, giám mục, linh mục, hay người được thánh hiến, mà là con cái Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều là những người con trong Chúa Con, được hiệp nhất bởi mối dây huyết thống đến từ Chúa Thánh Thần. Khẳng định phẩm giá bình đẳng của mọi người không có nghĩa là phủ nhận những khác biệt: Giáo hội là nhiệm thể của Đức Kitô, sống động và xinh đẹp vì có nhiều hồng ân, đặc sủng, thừa tác vụ và ơn gọi khác nhau.
Nguyên tắc quy định sự phong phú của các ân sủng, đặc sủng, và thừa tác vụ trong thân mình giáo hội được Công đồng thể hiện trong mối tương quan giữa “chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác hoặc phẩm trật” là những hình thức tham gia riêng biệt vào chức tư tế của Đức Kitô (LG 10). Điểm mới lạ của đoạn văn này mang tính đột phá vì sự lựa chọn đảo ngược hai chủ thể đang diễn ra: đặt chức tư tế cộng đồng trước chức tư tế thừa tác có nghĩa là phá vỡ mối tương quan bất đối xứng về quyền bính-vâng phục đã cấu trúc nên Giáo hội kim tự tháp. Sau đó, việc khẳng định hai hình thức tham gia vào chức tư tế của Đức Kitô được quy hướng về nhau có nghĩa là nhìn nhận sự đa dạng bổ sung cho nhau của chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác, chứ cả hai không thể giản lược vào nhau.
Trong mối tương quan này, một không gian rất rộng mở ra, mà các thừa tác viên chức thánh không thể và không nên chiếm giữ. Nhưng các thừa tác viên chức thánh thì phục vụ dân thánh của Thiên Chúa, những người sau cùng thì cũng trở thành chủ thể tích cực của đời sống giáo hội.
3. Nhưng nói Giáo hội là Dân Chúa không giải quyết được toàn bộ vấn đề, cũng không bảo đảm một cuộc cải cách Giáo hội mà không đau đớn. Điều này được chứng minh bằng cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra trong giai đoạn ngay sau Công đồng về giáo hội học của Vatican II, vốn đối đầu đặc sủng và thể chế, “Giáo hội từ bên dưới và Giáo hội từ bên trên”, Dân Chúa và hàng giáo phẩm.
Giáo hội xét như Dân Chúa một đàng giải thích sự nhấn mạnh nền giáo hội học hiệp thông, chủ yếu tập trung vào khía cạnh hiệp thông mang tính phẩm trật, điều mà theo thời gian đã tạo ra một “sự tập quyền” thực sự của Giáo hội; đàng khác, Giáo hội xét như Dân Chúa dấy lên lo sợ rằng tính hiệp hành, được hiểu là “cuộc hành trình cùng nhau” của Dân Chúa, sẽ tạo thành một sự thay thế cho nguyên tắc hiệp thông. Thực ra, tính hiệp hành không gì khác hơn là sự hiệp thông của Giáo hội với tư cách là Dân Thánh của Thiên Chúa. Tính hiệp hành và hiệp thông có thể được xác định, với điều kiện là chúng ta hiểu Giáo hội là Dân Chúa đang trên hành trình.
Chính trong Giáo hội hiệp hành mà tất cả các chiều kích hiệp thông đều tìm thấy tư cách công dân: hiệp thông Ba Ngôi, hiệp thông các tín hữu, hiệp thông các Giáo hội, hiệp thông các thánh. Các Mục tử phục vụ Giáo hội này trong một sự hiệp thông có tính phẩm trật được điều hành bởi sự phục vụ hiệp nhất của Giám mục Rôma, người mà – theo lời của Đức Thánh Cha Phanxicô – “tự thân, không đứng trên Giáo hội, mà ở bên trong Giáo hội như một người đã lãnh phép Rửa giữa những người đã lãnh phép Rửa và ở bên trong giám mục đoàn như một giám mục giữa các giám mục, đồng thời với tư cách đấng kế vị thánh Phêrô, ngài được gọi để hướng dẫn Giáo hội tại Roma vốn chủ trì tất cả các Giáo hội trong tình yêu thương” (Diễn từ Kỷ niệm 50 năm Thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục).
4. Với các chủ đề của mình, Module B.3 chỉ ra cách thức để khởi động việc đổi mới các tiến trình, cơ cấu, và thể chế trong một Giáo hội hiệp hành mang tính sứ mạng, với sự tiếp nhận ngày càng sâu rộng khuôn khổ giáo hội học do Công đồng Vatican II thiết kế. Chính trên mối tương quan chặt chẽ tồn tại giữa Dân Chúa, Giám mục đoàn, và Giám mục Rôma mà mỗi người, với chức năng của mình, thiết lập Giáo hội hiệp hành như là “Giáo hội lắng nghe”: “Các tín hữu, Giám mục đoàn, Giám mục Rôma: người này lắng nghe người kia; và tất cả đều lắng nghe Chúa Thánh Thần, ‘Thần Khí sự thật’ (Ga 14, 17), để biết Ngài ‘nói gì với các Giáo Hội’ (Kh 2, 7)”.
Ước muốn bảo đảm các chức năng tương ứng của các chủ thể này đã dẫn đến việc biến Thượng Hội đồng từ một sự kiện thành một tiến trình. Sự lựa chọn này không từ chối, nhưng hội nhập vào một cơ quan hiệp nhất cao hơn do Đức Phaolô VI thiết lập, mà trong đó Đức Thánh Cha có ý trao cho các giám mục “khả năng tham gia một cách rõ ràng hơn và hiệu quả hơn vào chức vụ chăn dắt của Ta đối với Giáo hội hoàn vũ” (Tự sắc AS). Phù hợp với tất cả nền giáo hội học của Công đồng, thì bước tiếp theo cần thực hiện như đã được Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên bố đó là: Làm thế nào “Thượng Hội đồng Giám mục, đại diện của hàng giám mục Công giáo, trở nên sự diễn tả tính hiệp đoàn giám mục bên trong một Giáo hội hiệp hành hoàn toàn?” (Diễn từ Kỷ niệm 50 năm Thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục). Điều này chỉ có thể khả thi khi nhìn nhận tất cả các chủ thể trong đó thân mình giáo hội được kết nối. Trong tiến trình hiệp hành, Dân Chúa, Giám mục đoàn và Giám mục Rôma thực thi các chức năng mang tính giáo hội cụ thể của mình, tạo nên tính hiệp hành, tính hiệp đoàn, và tính tối thượng trong sự hiệp nhất năng động.
5. Tiến trình Thượng Hội đồng này diễn ra thông qua một động lực kép, bổ sung cho nhau trong chuyển động: kêu gọi và triệu tập.
Kêu gọi: Tiến trình Thượng Hội đồng có thể diễn ra trong Giáo hội bởi vì Giám mục của Rôma gọi tiến trình này tương đương với hoạt động hiệp hành. Hoạt động ban đầu này phù hợp với đặc quyền của Giám mục Rôma, “nguyên tắc hữu hình và nền tảng của sự hiệp nhất” của tất cả những người đã lãnh phép Rửa, của tất cả các giám mục, và của tất cả các giáo hội. Chính vị Giám mục Rôma “bảo toàn quyền tối thượng của ngai tòa Phêrô đứng đầu toàn thể cộng đoàn đức ái, bảo toàn các dị biệt hợp pháp, đồng thời lưu tâm giữ gìn sao cho các dị biệt ấy không làm phương hại, trái lại còn phục vụ cho sự hiệp nhất” (LG 13). Để phục vụ sự hiệp nhất của Giáo hội, ngài triệu tập, chủ trì và xác nhận Thượng hội đồng, tương tự như cách ngài triệu tập, chủ trì và xác nhận công đồng đại kết (x. LG 22). Giám mục Rôma là người thiết lập chủ đề của Thượng hội đồng, khởi xướng tiến trình của Thượng hội đồng, đồng hành với tiến trình thông qua Ban Thư ký Thượng hội đồng, và kết thúc tiến trình Thượng hội đồng.
Theo lời kêu gọi này, tiến trình triệu tập bắt đầu, với sự tham gia của toàn thể Giáo hội và mọi người trong Giáo hội, khởi đi từ các giáo hội địa phương. Điều này dựa trên nguyên tắc giáo hội học được Công đồng Vatican II tuyên bố, trong đó khẳng định rằng Giáo hội là “thân thể của các giáo hội”, chính nhờ và trong các giáo hội ấy mà có một Giáo Hội công giáo, duy nhất (LG 23).
Theo nguyên tắc này, mỗi Giám mục, với tư cách là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trên phần Dân Chúa (portio Populi Dei) được trao phó cho mình (x. LG 23), chịu trách nhiệm khai mở tiến trình hiệp hành trong Giáo hội của mình. Chính vì được Giám mục triệu tập, nên việc thỉnh ý trong các giáo hội địa phương là một cuộc thỉnh ý thực sự đối với Dân Chúa, chủ thể của cảm thức đức tin. Đây là lý do tại sao trong giai đoạn đầu của tiến trình Thượng Hội đồng, việc lắng nghe từng phần Dân Chúa xảy ra đồng thời với việc lắng nghe toàn thể Dân Chúa đang sống và bước đi trong các giáo hội.
Sẽ không có sự thỉnh ý Dân Chúa trong các giáo hội địa phương nếu vị Mục tử không khởi xướng việc đó, vì thế, các giám mục thực sự tham gia ngay từ đầu và đóng một vai trò cần thiết và không thể thay thế trong tiến trình hiệp hành. Do đó, điều hiển nhiên là không có mâu thuẫn giữa chiều kích hiệp hành và chiều kích phẩm trật của Giáo hội: cái này bảo đảm cho cái kia và ngược lại, với Giáo hội là một “‘bí tích hiệp nhất’, một dân tộc được quy tụ và cai quản dưới sự hướng dẫn của các giám mục” (SC 26).
6. Do đó, tiến trình Thượng Hội đồng là một dịp đặc biệt để thực hành cả tính hiệp hành lẫn tính hiệp đoàn, vì nó đảm bảo việc thực hành hiệu quả cảm thức đức tin của Dân Chúa cũng như khả năng phân định của các Mục tử. Do hoạt động hiệp hành mà Giám mục Rôma đã triệu tập toàn thể Giáo hội, các giám mục trên toàn thế giới cùng nhau thực hiện chức năng phân định của mình ở các giai đoạn trung gian của tính hiệp hành và hiệp đoàn. Sự phân định của các Hội đồng Giám mục và các hội đồng công nghị, khi được áp dụng vào việc thể hiện cảm thức đức tin của Dân Chúa, không phải là một hoạt động mục vụ thuần tuý mà còn là “một biểu hiện của tính hiệp đoàn giám mục trong một Giáo hội hiệp hành” (Diễn từ Kỷ niệm 50 năm Thiết lập Thượng Hội đồng Giám mục), trong phạm vi các giám mục thực sự thể hiện qua những hành động này “sự hiệp thông với nhau và với Đấng kế vị thánh Phêrô” trong việc thi hành chức năng phân định (LG 25).
7. Do đó, chúng ta có thể kết luận bằng việc tái khẳng định rằng Thượng Hội đồng là “địa điểm” và “không gian” đặc quyền để thực thi tính hiệp hành, vốn không nhấn mạnh vai trò đơn phương của Dân Chúa hoặc của các Mục tử, mà đến vai trò của mọi chủ thể – Dân Chúa, Giám mục đoàn, Giám mục Rôma – thể hiện tính hiệp hành, tính hiệp đoàn, và tính tối thượng trong sự hiệp nhất năng động. Với những đặc điểm độc đáo này, tiến trình Thượng Hội đồng có thể được hiểu như là cách thực thi tính hiệp hành cách tinh tế nhất trong Giáo hội Công giáo.
Đây là điểm khởi đầu cho việc xem xét lại các thể chế giáo hội. Một công việc như đã được giải thích trong Tông hiến Praedicate Evangelium, là cân nhắc lại việc phục vụ Giáo hội của Giáo triều Rôma dựa trên giải pháp hiệp hành. Sự cân nhắc này đặt nền trên mô tả của Công đồng về Giáo hội như là “thân thể của các giáo hội”, “chính nhờ và trong các giáo hội ấy mà có một Giáo hội công giáo, duy nhất” (EP 6); đây cũng là nguyên tắc chi phối toàn bộ tiến trình hiệp hành, đó là thay vì đưa ra những cải cách riêng lẻ cần nêu ra các tiêu chí cải cách.
Trước hết, trên phương diện thần học: cần suy nghĩ lại về Giáo hội theo giải pháp hiệp hành, để toàn bộ Giáo hội và mọi thứ trong Giáo hội – đời sống, các tiến trình, các thể chế – được cân nhắc lại theo chiều kích hiệp hành.
Thứ đến, trên phương diện thể chế: cần bảo đảm cho Giáo hội “không gian” để thực hành tính hiệp hành. Theo ý kiến của diễn giả, điều này tương đương với việc bảo vệ Thượng hội đồng như một cơ quan phục vụ một Giáo hội hiệp hành theo thể chế. Nếu không có Thượng Hội đồng thì việc thực thi tính hiệp hành cuối cùng sẽ tan rã thành hàng ngàn dòng suối và tạo ra một vũng lầy thực sự, làm chậm lại, nếu không muốn nói là ngăn cản việc Dân Chúa “cùng nhau bước đi”. Người ta có thể suy tư về hình thức thể chế của Thượng Hội đồng, nhưng đừng nghi ngờ gì rằng thể chế này đảm bảo cho Giáo hội thực thi tính hiệp hành một cách chân thực, như tiến trình Thượng Hội đồng hiện tại đã chứng minh rõ ràng.
Việc thực thi tính hiệp hành một cách chân thực sẽ cho phép chúng ta có được những cân nhắc thấu đáo – với sự kiên nhẫn và thận trọng – về những cải cách thể chế cần thiết, về các tiến trình đưa ra quyết định có sự tham gia của mọi người, và về việc thực thi quyền bính thực sự phù hợp với “sự lớn mạnh” của một Dân Chúa trưởng thành và có sự tham gia.
Trong viễn ảnh này, tôi lặp lại lời của vị Giám mục đã phong chức cho tôi nhiều năm trước, và từ kinh nghiệm của ngài mà tôi học biết về tính hiệp hành. Trong sứ điệp gửi Giáo hội của mình vào năm 1990, nhân dịp khai mạc công nghị giáo phận, ngài đã viết những lời có tính ngôn sứ:
“Dân Chúa, một dấu chỉ hữu hình về sự hiện diện vô hình của Nước Trời, lắng nghe, đối thoại, phục vụ Chúa của mình, trung tâm của vũ trụ và lịch sử. Một Dân chấp nhận lời mời bước đi bên cạnh Thiên Chúa, nhân loại, thụ tạo. [… ] Công nghị là một lời tuyên bố về tình yêu đối với mảnh đất, mảnh đất được chúc lành mà chúng ta đang bước đi, đối với khoảng thời gian được chúc phúc vừa hấp dẫn vừa kịch tính này. Công nghị thậm chí còn là một tuyên ngôn mạnh mẽ hơn về tình yêu thương đối với con người, đối với tất cả mọi người. Tình yêu ưu tiên đối với những người nghèo nhất về mọi phương diện và mức độ. […] Chỉ có tình yêu mới có thể thuyết phục. Chỉ có tình yêu mới làm cho lớn lên, mới tạo ra sự mới lạ. Chúng ta hãy tin chắc rằng: Công nghị là thời gian của tình yêu. Từ Thiên Chúa đến với chúng ta, từ chúng ta đến với Ngài, và từ mọi người giữa chúng ta“.
(+ Dante Bernini).
Xin cảm ơn.
Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: vaticannews.va (18.10.2023)
Tác giả: Aline Laschine
Chuyển ngữ: Tý Linh
Khám phá mười hai lời khuyên mà Đức Phanxicô đã đưa ra trong bài giáo lý của ngài về “Niềm say mê truyền giáo: lòng nhiệt thành tông đồ của các tín hữu” để khuyến khích mọi Kitô hữu làm chứng cho Chúa Kitô.
Kể từ tháng 1 năm 2023, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dành những buổi tiếp kiến chung của mình cho một chu kỳ dạy giáo lý về loan báo Tin Mừng. Trong suốt cuộc hành trình này, ngài đã đưa ra nhiều lời khuyên cho việc truyền giáo, đồng thời nhắc nhở rằng Giáo hội, và do đó, mỗi người đã được rửa tội, được mời gọi tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô và loan báo Tin Mừng cho thế giới.
1. Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi loan báo Tin Mừng
Đức Thánh Cha nói: trong Dân Thiên Chúa, “không có sự phân công trách nhiệm cho những người này là rao giảng Tin Mừng bằng cách này hay cách khác, và những người kia thì im lặng […], cũng không có những người này thì hoạt động tích cực và những người kia thì không”. Bởi vì, mỗi người đã được rửa tội đều được mời gọi loan báo Tin Mừng, bất kể chức vụ hay trình độ kiến thức đức tin của họ. Để không nhốt mình trong sự tĩnh lặng, Đức Thánh Cha mời gọi mỗi Kitô hữu nhận ra vẻ đẹp và sự nhưng không của món quà đã được trao cho mình và mang món quà này đến cho người khác: “Các con đã nhận được nhưng không, hãy cho đi một cách nhưng không” (Mt 10, 8).
2. Đừng chờ đợi biết mọi thứ
Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Chúng ta không được đợi cho đến khi chúng ta hoàn hảo và đã đi một chặng đường dài theo Chúa Giêsu để làm chứng cho Ngài”. Sứ mạng loan báo Tin Mừng của chúng ta “bắt đầu từ hôm nay”. Bản thân các tông đồ cũng không hoàn hảo và họ không chờ đợi để trở nên hoàn hảo hoặc biết hết mọi sự trước khi bắt tay vào sứ mạng này. Chúa Giêsu đã sai họ “trước khi hoàn tất việc chuẩn bị của họ”, Đức Thánh Cha giải thích và đồng thời nhắc lại rằng kinh nghiệm truyền giáo “là một phần của việc đào tạo”.
3. Loan báo rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta
“Thiên Chúa là ai? », Đức Thánh Cha hỏi trong bài giáo lý của mình, và giải thích: Người là “Đấng gần gũi, dịu dàng, thương xót”. Đây là thực tại của Thiên Chúa và nó phải được công bố cho mọi người, bởi vì “tình yêu của Thiên Chúa không chỉ dành cho một nhóm nhỏ mà dành cho tất cả mọi người”. Tất cả chúng ta đều là con cái yêu dấu của Chúa, bất chấp lỗi lầm và khuyết điểm, và Người luôn yêu thương chăm sóc mỗi người chúng ta. Đức Thánh Cha thốt lên: “Thật tuyệt vời biết bao khi được chia sẻ ánh sáng này với người khác”. “Anh chị em có coi cuộc sống của mỗi người chúng ta là một cử chỉ của tình yêu không? Đó có phải là một lời mời gọi yêu thương không? “.
4. Loan báo rằng Thiên Chúa tha thứ
Chúa Giêsu đến để giải thoát những người bị áp bức và do đó là những người cảm thấy bị đè bẹp bởi những sai lầm và tội lỗi mà không phương thuốc nào của con người có thể chữa lành được. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại : “Tin vui là với Chúa Giêsu, sự dữ cổ xưa này, tội lỗi, dường như bất khả chiến bại, không còn có tiếng nói cuối cùng nữa”. “Lời cuối cùng là bàn tay của Chúa Giêsu sẽ nâng bạn dậy khỏi tội lỗi.” Chúa Giêsu tha thứ, nâng đỡ, chữa lành và trấn an tâm hồn khi chúng ta đến với Ngài. “Chúng ta chỉ cần đến gần Chúa và Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta mọi sự.”
5. Có cái nhìn như Chúa Kitô
Khi chúng ta loan báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta có cùng một cái nhìn như Chúa Giêsu, bởi vì Chúa Giêsu đi đến với con người, đến với trái tim, đến với điều chính yếu. Giống như khi Người nhìn Mátthêu, người thu thuế. Người ta coi ông là kẻ cộng tác, kẻ phản bội dân tộc. Giờ đây, trong mắt Chúa Giêsu, Mátthêu là một con người với những đau khổ và sự cao cả của mình. Ngài thực sự nhìn mỗi người với lòng thương xót và ưu ái. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Cái nhìn này của Chúa Giêsu – rất đẹp, nhìn người khác như người nhận được tình yêu, dù họ là ai – là khúc dạo đầu cho niềm say mê loan báo Tin Mừng.”
6. Thường xuyên đến với Chúa
Việc loan báo Tin Mừng bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa. Đức Thánh Cha nhắc nhớ : loan báo Tin Mừng có nghĩa là có thể chiếu tỏa Chúa Kitô, nhưng “nếu chúng ta không nhận được ánh sáng của Người, chúng ta sẽ bị dập tắt. Nếu chúng ta không thường xuyên đến với Người, chúng ta sẽ mang chính mình thay vì Người và điều đó sẽ hoàn toàn vô ích”. Chính Chúa Kitô đã lánh riêng ra trong đêm, để cầu nguyện với Chúa Cha. “Chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta có noi gương Người bằng cách uống nước từ suối cầu nguyện, để tâm hồn chúng ta hòa hợp với Người không? Chính Chúa Giêsu đã nói rõ ràng với các môn đệ của mình: “Không có Thầy các con không thể làm gì được””.
7. Thông truyền Tin Mừng mà chúng ta đã nhận được
Thánh Phaolô đã viết cho giáo đoàn Galata : “Nếu chính chúng tôi, hoặc nếu thiên sứ từ trời truyền cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã rao giảng cho anh em, thì người ấy đáng bị nguyền rủa!” (Gl 1, 8). Như Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “cám dỗ tiến hành “một mình” luôn hiện hữu, đặc biệt khi con đường trở nên bế tắc”. Ngài giải thích rằng chính cơn cám dỗ này “đi theo những con đường giả Giáo hội dễ dàng hơn, chấp nhận lôgic thế gian, trông cậy vào sức mạnh của các ý tưởng, chương trình, cơ cấu của chúng ta”. Để tránh điều này, mọi Kitô hữu đều được mời gọi cầu xin Chúa Thánh Thần để có thể công bố sự thật về Chúa Giêsu Kitô và tính xác thực của Lời Người.
8. Không được chiêu dụ tín đồ
Loan báo Tin Mừng không giống như chiêu dụ tín đồ, hay tìm cách thuyết phục người khác. Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở: “Chúng ta không loan báo một đảng phái chính trị, cũng không một hệ tư tưởng, không: chúng ta loan báo Chúa Giêsu”. Truyền giáo có nghĩa là đưa “Chúa Giêsu tiếp xúc với mọi người, không thuyết phục họ, nhưng để Chúa thuyết phục”. Như người tiền nhiệm của ngài là Đức Bênêđíctô XVI cũng đã dạy, “Giáo hội không chiêu dụ tín đồ. Đúng hơn, Giáo hội phát triển thông qua “sự thu hút””.
9. Làm chứng cho cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu
Theo Đức Thánh Cha Phanxicô, việc loan báo Tin Mừng trước hết phải là chứng tá cho cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu Kitô. Đó thực sự là một chứng từ không thể thiếu bởi vì thế giới cần “những người loan báo Tin Mừng nói với thế giới về một Thiên Chúa mà họ biết và quen thuộc với họ”. Như Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã nói, “người đương thời sẵn sàng lắng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy, […] hoặc nếu họ nghe các thầy dạy, đó là vì các thầy dạy này là những chứng nhân”. Để việc loan báo Tin Mừng có kết quả và hữu hiệu, chứng tá cá nhân là điều kiện thiết yếu.
10. Trở thành một Kitô hữu vui tươi
Chúa Giêsu tuyên bố: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi […] Ngài đã sai tôi mang Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4, 18). Vì Tin Mừng là lời loan báo về niềm vui và hạnh phúc. Như Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Chúng ta không thể nói về Chúa Giêsu mà không có niềm vui, bởi vì đức tin là một câu chuyện tình yêu tuyệt vời để chia sẻ”. Không có niềm vui, việc loan báo Tin Mừng là vô ích. Đức Thánh Cha nói: nhưng làm chứng cho Chúa Giêsu, với niềm vui, thực hiện những hành động nhân danh Người, với niềm vui, là để chứng tỏ rằng “chúng ta đã nhận được một món quà quá đẹp đến nỗi không lời nào có thể diễn tả được”.
11. Để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn
Nhân vật chính thực sự của việc loan báo Tin Mừng là Chúa Thánh Thần. Đức Thánh Cha nói: không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể loan báo Tin Mừng, “chúng ta chỉ có thể quảng cáo cho Giáo hội”. Do đó, ngài mời gọi các Kitô hữu hãy để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tin tưởng vào hành động của Người, ngay cả khi Người thúc đẩy chúng ta vượt qua những rào cản, giới hạn và biên giới của mình. Đức Thánh Cha nhắc lại : nếu Giáo hội không cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, Giáo hội sẽ “tự quay lưng lại” và “ngọn lửa truyền giáo sẽ vụt tắt”. “Đây là lý do tại sao thánh Phaolô Tông đồ khuyên điều này: “Đừng dập tắt Thánh Thần” (1 Th 5, 19) […] chúng ta hãy cầu khẩn Người, cầu xin Người mỗi ngày thắp lên ánh sáng của Người trong chúng ta.”
12. Bắt chước các thánh truyền giáo
Để tái khám phá niềm say mê loan báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu khám phá và để mình được truyền cảm hứng từ nhiều vị thánh truyền giáo. Thánh Têrêsa thành Lisieux, thánh Phanxicô Xaviê, thánh Josephine Bakhita… và rất nhiều người khác đã loan báo Tin Mừng ở đất nước của họ và khắp bốn phương trên thế giới. Như Đức Thánh Cha Phanxicô khuyến khích, chúng ta hãy đến gần những nguồn sống động và những chứng nhân này, “những người đã làm sống lại niềm say mê Tin Mừng trong Giáo hội, để các ngài có thể giúp chúng ta nhen nhóm lại ngọn lửa mà Chúa Thánh Thần luôn muốn đốt cháy trong chúng ta”.
Trong tông huấn Gaudete et Exsultate, Đức Thánh Cha Phanxicô lên án hai kẻ thù tinh vi của sự thánh thiện. Trong chủ nghĩa Pelagian, chúng ta nghĩ rằng chính chúng ta là người dành được ơn cứu độ. Trong Thuyết ngộ đạo, chúng ta tin rằng ơn cứu độ được ban tặng mà không cần đến sự đáp trả của con người chúng ta.
Đúng vậy, mặc dù tội lỗi gia tăng, ân sủng càng chan chứa (Rm 5:12-21). Tuy nhiên, Chúa cũng bảo chúng ta: Hãy tỉnh thức. Khi Người đến và gõ cửa, chúng ta phải mở cửa ngay lập tức (Lc 12:35-38).
Có hai hình ảnh về sự thánh thiện: Thiên Chúa đưa chúng ta đến gần với Ngài và chúng ta được về Thiên Đàng. Sự thánh thiện là ân ban của Thiên Chúa và là một nhiệm vụ của con người.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Quảng cáo nhắm lợi nhuận mời chúng ta thỏa mãn mong muốn hoặc làm theo ước vọng của mình. Thánh Phanxicô Assisi khuyên chúng ta phân biệt giữa ước muốn và nhu cầu cần thiết. Hãy giản dị, tránh tham lam.
Chúa Giêsu dạy chúng ta: Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam. Một người có thể giàu có, nhưng của cải không đảm bảo cho sự sống của anh ta (Lc 12:15). Ông Ápraham được vững mạnh nhờ niềm tin và được trở nên công chính (Rm 4:20-25). Thay vì sống theo phương châm được viết trên đồng xu và tiền giấy của Mỹ “Chúng ta tin tưởng vào Chúa”, nhiều người trong chúng ta thích câu này hơn: “Chúng tôi tin tưởng vào đô la”.
Cha Oscar Ante OFM
Chuyển ngữ: Sr. Quỳnh Tâm
Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ ban ơn toàn xá cho các tín hữu ở Bán đảo Ả Rập nhận dịp Năm Thánh ngoại thường sẽ được cử hành tại hai Hạt Đại diện Tông Tòa Bắc và Nam Ả Rập, từ ngày 24/10/2023 đến ngày 23/10/2024, nhân dịp kỷ niệm 1500 năm cuộc tử đạo của Thánh Aretas và các bạn tử đạo, bị sát hại trong cuộc đàn áp chống Kitô giáo vào năm 523 tại Najran, ở Ả Rập trước thời kỳ Hồi giáo.
Cuộc tử đạo của Thánh Aretas và các bạn tử đạo
Thánh Aretas, sinh năm 427, là thống đốc của thành phố Kitô giáo cổ Najran ở miền nam Ả Rập. Vua của Himyar (thuộc Yemen ngày nay), Dhu Nuwas, được cho là đã theo đạo Do Thái và tiến hành một cuộc đàn áp có hệ thống đối với những người theo Kitô giáo, đốt nhà thờ, buộc người dân phải cải đạo và xử tử những người không chịu từ bỏ đức tin Kitô giáo.
Sau khi chinh phục Najran, Vua Dhu Nuwas ra lệnh ném các linh mục, phó tế, nữ tu và giáo dân xuống hố và thiêu sống. Đàn ông, đàn bà, già trẻ, bị giết không phân biệt: một đứa trẻ năm tuổi bị chết khi lao vào vào ngọn lửa để được ở bên mẹ. Thánh Aretas, lúc đó đã 95 tuổi, và một trăm Kitô hữu khác đã bị chặt đầu vào năm 523. Đại diện Tông tòa Bắc Ả Rập cho biết đã có hơn 4.000 vị tử đạo trong cuộc đàn áp này, đã bị giết “vì đức tin vững mạnh vào Chúa Kitô bị đóng đinh”.
Mở cửa Năm Thánh
Hai vị đại diện tông tòa Bắc và Nam Ả Rập, Aldo Berardi và Paolo Martinelli, sẽ mở Cửa Thánh ở Bahrain và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Thánh lễ khai mạc trọng thể Năm Thánh sẽ được Đức cha Aldo Berardi, Đại diện Tông tòa miền Bắc Ả Rập, chủ sự lúc 11 giờ giờ địa phương vào ngày 4/11/2023, tại Nhà thờ Đức Mẹ Ả Rập ở Awali, Bahrain, đúng một năm sau chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đến vùng đất này. Trước Thánh lễ sẽ có nghi thức mở Cửa Thánh.
Vào ngày 9/11/2023, lúc 6 giờ chiều theo giờ địa phương, Cửa Thánh cũng sẽ được Đức cha Paolo Martinelli, Đại diện Tông tòa Nam Ả Rập, mở tại Nhà thờ Thánh Giuse ở Abu Dhabi, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nơi Đức Thánh cha viếng đã thăm vào tháng 2/2019. Một thánh tích của Thánh Aretas, được Đức Thượng phụ Bartolomeo I của Constantinople tặng, dự kiếnsẽ được đưa đến Bahrain vào tháng 11.
Ơn gọi là một Giáo hội Công giáo ở bán đảo Ả Rập
Đức cha Berardi nói với hãng tin Fides: “Chúng tôi có những vị tiền nhiệm Kitô giáo ở những vùng đất này, những người đã nêu gương cho chúng tôi. Bây giờ đến lượt chúng tôi trở thành những chứng nhân của Đấng Phục Sinh trong thời điểm hiện tại. Được truyền cảm hứng từ các vị tử đạo Ả Rập, các Kitô hữu trên bán đảo Ả Rập ngày nay được kêu gọi trở thành ‘những vị tử đạo hàng ngày’, những người không ngừng làm chứng sống động cho Chúa Kitô và sứ điệp của Chúa trong những điều nhỏ nhặt hàng ngày của cuộc sống họ”. Ngài nói thêm: “Năm Thánh mang đến cho chúng tôi một cơ hội để hiểu rõ hơn về ơn gọi của chúng tôi với tư cách là một Giáo hội Công giáo ở khu vực này”.