Chọn Yêu Thương Hay Thù Hận

Những cuộc chiến không ngừng để lại dấu ấn sâu sắc, làm chao đảo nhịp sống của con người trên toàn thế giới. Nhắc đến chiến tranh, lòng người luôn khắc khoải hướng về hòa bình. Nhưng khi nói đến hòa bình, ta lại không khỏi ngoái nhìn về quá khứ đầy nước mắt và đau thương do chiến tranh gây ra.

Khi còn nhỏ, tôi từng ngây thơ nghĩ rằng nước Mỹ nằm ngay bên kia sông. Từ bên này bờ sông, tôi có thể ngước nhìn những chiếc máy bay “làm mưa” những tràng pháo hoa rực rỡ và vui mắt trên bầu trời. Lớn lên một chút, tôi dần hiểu được sự thật qua những bài học lịch sử về chiến tranh. Nó không mãi đẹp như “những tràng pháo hoa rực rỡ” nhưng lại tồn tại những vết thương không bao giờ lành hẳn. Chưa bao giờ và cũng chẳng ở đâu tồn tại cái gọi là “niềm vui của chiến tranh”. Nếu có, đó hẳn là một sự điên rồ và ích kỷ, khi sinh mạng và nỗi đau của con người bị giẫm đạp bằng bạo lực và tàn ác.

Từ ích kỷ, ghen ghét và chia rẽ, chiến tranh đã nảy sinh. Ngay từ thuở ban đầu của lịch sử nhân loại, câu chuyện Cain và Aben đã cho thấy bóng tối của bạo lực len lỏi vào đời sống con người. Thật vậy, chiến tranh không chỉ diễn ra ngoài chiến trường, trong xã hội, mà còn âm ỉ trong chính mỗi tâm hồn. Hậu quả của nó là sự lạnh lùng, chia cách; là những mảnh đời đói khát, tang thương; là nỗi đau vượt quá ngôn từ. Con người dần đánh mất khả năng đối thoại với nhau bằng tình yêu thương.

Đức cố Giáo Hoàng Phanxicô đã từng nhắn gửi: “chúng ta cần phải thay thế sự hèn nhát của vũ khí bằng lòng dũng cảm của sự hòa giải với niềm tin.” Cái chết của Chúa mở ra cho nhân loại một niềm hy vọng về chân trời yêu thương và tha thứ, nơi mà hận thù sẽ không bao giờ là tiếng nói cuối cùng. Và để ngày ấy đến gần hơn, mỗi người chúng ta cần bắt đầu từ chính mình: ngừng “sản xuất” những “vũ khí” của hận thù là đố kỵ, là ích kỷ, là thành kiến và sự kiêu ngạo… Để trao lại cho nhân loại sự bình yên, trước hết mỗi cá nhân cần sự bình yên thật sự trong tâm hồn, rồi lan tỏa đến những người xung quanh bằng sự tử tế và chân thành theo khuôn vàng thước ngọc từ Kinh Thánh: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta(Mt 7,12). Chỉ như thế, hòa bình mới thật sự được vun đắp và lớn lên.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, giữa những đổ vỡ và bất an của thế giới, xin Ngài gieo vào lòng chúng con niềm hy vọng mới. Xin chữa lành những vết thương do hận thù gây nên, và dạy chúng con biết sống hiền hòa, bao dung, biết chọn yêu thương thay vì thù hận.

Xin cho mỗi người chúng con trở nên khí cụ bình an của Chúa, biết xây dựng hòa bình từ những điều nhỏ bé trong đời sống hằng ngày. Và trong hành trình ấy, xin cho lời chúc lành của Chúa: “Bình an cho anh em” luôn vang vọng trong tâm hồn chúng con, nâng đỡ và dẫn dắt chúng con mỗi ngày. Amen.

Maria Đặng Hiền  


Thuộc Thần Khí Hay Thuộc Thế Gian? (16.04.2026 Thứ Năm Tuần II Phục Sinh)

“Ðấng từ trên cao mà đến thì vượt trên hết mọi người. Kẻ bởi đất mà ra, thì thuộc về đất và nói những sự thuộc về đất… Ðấng được Thiên Chúa sai đến thì nói lời của Thiên Chúa, vì được Chúa ban cho Thần Khí vô ngần vô hạn”.

Gioan Tẩy giả làm chứng về Chúa Giêsu như thế. Chúa Giêsu, đến lượt Người, đến để nói lời của Chúa Cha và làm chứng về Chúa Cha.

Điều gì bảo đảm tính chân thật của chứng từ và chứng tá? Chính Thần Khí! Mức độ thuộc về Thần Khí của một người sẽ là mức độ chân thật nơi lời chứng của người ấy. Chúa Giêsu được ban Thần Khí vô ngần vô hạn, nên chứng từ của Người hoàn toàn chân thật, tinh ròng, không pha phôi…

Bi kịch ở chỗ người ta “không chấp nhận lời chứng của Người”! Môn đệ không hơn Thầy, nên các Tông đồ “cùng với Thánh Thần” làm chứng rằng Chúa Giêsu đã Phục sinh và được đặt làm Đấng Cứu Độ, nhưng các ngài bị cấm đoán và bắt bớ, đánh đòn (x. Cv 5,27-33)…

Thời của chúng ta hôm nay, Tin Mừng sự sống, Tin Mừng hoà bình đang bị thách thức gay gắt. Không chỉ các chính khách, các giới cầm quyền mạ lỵ Đức giáo hoàng, mà cả rất nhiều ‘cư dân mạng’ hùa theo công kích tiếng nói ngôn sứ của các vị lãnh đạo Giáo hội liên quan đến vấn đề chiến tranh, bạo lực lan tràn… Hiện tượng này cho thấy rõ rất nhiều toan tính muốn chính trị hoá tôn giáo, đồng thời cũng cho thấy rất nhiều người, kể cả nhiều Kitô hữu, bị thao túng bởi ý thức hệ, và tin theo ý thức hệ hơn là tin vào Tin Mừng!

Vâng, chúng ta cần bị thách đố như thế, để chẩn đoán mức độ thuộc về Thánh Thần của xã hội và thế giới hôm nay, cả của Giáo hội, và của chính chúng ta. Như có người nói: Nếu Giáo hội không bị chống đối bởi quyền lực thế gian, thì Giáo hội ấy không còn là Giáo hội của Thần Khí Chúa Giêsu Kitô nữa!

Chúng ta có dám lên tiếng, đương đầu hay không? Hay đó là việc của chỉ một mình Đức giáo hoàng và vài giám mục?

Lm. Lê Công Đức


Đức Thánh Cha Lêô XIV Rời Algeria, Bắt Đầu Chuyến Tông Du Tại Camerun

Thứ Tư, ngày 15/04/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chính thức rời Algeria, bắt đầu chặng dừng chân tiếp theo tại Cộng hòa Camerun. Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha được kỳ vọng sẽ khơi dậy hy vọng sâu sắc về hòa bình, sự hiệp nhất và đổi mới tâm linh tại một quốc gia bị ghi dấu bởi những căng thẳng và bất bình đẳng này.

Sáng ngày 15/04, sau khi cử hành Thánh lễ riêng và từ biệt Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Algeria, Đức Thánh Cha đã di chuyển quãng đường 22,5 km đến Sân bay quốc tế Houari Boumediene. Tại đây, Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune đã chào đón và có cuộc hội kiến ngắn với Đức Thánh Cha tại Phòng Danh dự. Sau nghi thức tiễn biệt được cử hành trọng thể theo nghi lễ cấp quốc gia, lúc 10:16 (giờ địa phương), chuyên cơ ITA A330-900neo chở Đức Thánh Cha và phái đoàn tháp tùng đã cất cánh hướng về phương Nam.

Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune hội kiến với Đức Thánh Cha tại Phòng Danh dự

Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune hội kiến với Đức Thánh Cha tại Phòng Danh dự   (@Vatican Media)

Chuyến bay khoảng 5 giờ vượt quãng đường 4.014 km qua không phận 4 quốc gia: Algeria, Niger, Chad và Nigeria trước khi hạ cánh xuống Sân bay quốc tế Yaoundé-Nsimalen, tại thủ đô Yaoundé của Camerun.

Thủ đô Yaoundé, nơi được mệnh danh là “thành phố của bảy ngọn đồi”, là trung tâm lớn thứ hai của Camerun (sau thành phố cảng Douala). Với bề dày lịch sử từ thời thuộc địa Đức, chuyển giao sang Pháp và giành độc lập vào năm 1960, Yaoundé nay trở thành điểm đến quan trọng trong sứ vụ hòa bình của Người kế vị Thánh Phêrô.

Nghi thức tiễn biệt Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Sân bay quốc tế Houari Boumediene

Nghi thức tiễn biệt Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Sân bay quốc tế Houari Boumediene   (@Vatican Media)

Sứ thần Tòa Thánh tại Camerun và Guinea Xích Đạo là Đức Tổng Giám mục José Avelino Bettencourt, người được bổ nhiệm từ tháng 8/2023. Hiện nay, Hội đồng Giám mục Camerun (CENC), với vị Chủ tịch là Đức Tổng Giám mục Andrew Nkea Fuanya (Giáo phận Bamenda) đang điều phối hoạt động mục vụ cho 5 giáo tỉnh và 26 giáo phận trên toàn quốc, đóng vai trò then chốt trong việc kết nối Giáo hội địa phương với sứ vụ của Đức Thánh Cha.

Trong đời sống công cộng, Giáo hội Camerun không chỉ đóng vai trò tâm linh mạnh mẽ mà còn là tác nhân xã hội và tiếng nói đạo đức quan trọng. Dù đang đối mặt với nhiều thách thức về an ninh, chính trị và xã hội, Giáo hội tại đây vẫn luôn trăn trở về sứ mạng của mình, sẵn sàng trở thành nhịp cầu hòa bình và hy vọng, mang lại sự hòa giải giữa những căng thẳng hiện nay.

Nguồn: Vatican News


Kiên Trung Rao Giảng Dù Bị Chống Đối (15.04.2026 Thứ Tư Tuần II Phục Sinh)

Đây là cốt lõi sứ điệp Kitô giáo, được Chúa Giêsu nêu ra trong cuộc chuyện của Người với Nicodemo: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin ở Con của Ngài, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”.

Sứ điệp này rõ ràng được bao gồm trong lời rao giảng tiên khởi, sau Phục sinh. Chính Chúa Giêsu là ‘sự sáng đã đến thế gian’ – nhưng ngay từ đầu, thế lực của bóng tối đã chống lại sự sáng này. Và xuyên qua các thế kỷ, thời nào lời rao giảng về sự sáng này cũng bị chống đối bằng nhiều cách và nhiều mức độ. Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến lời rao giảng của Giáo hội bị các thế lực công kích trắng trợn – như cách mà người ta đang thoá mạ Đức giáo hoàng Lê ô XIV và vị tiền nhiệm của ngài…

Chính Chúa Giêsu đã trực giác ‘số phận’ của Người cũng như của các sứ giả mà Người sai đi rao giảng:

“Sự sáng đã đến thế gian và người đời đã yêu sự tối tăm hơn sự sáng, vì hành động của họ xấu xa. Thật vậy, ai hành động xấu xa thì ghét sự sáng, và không đến cùng sự sáng, sợ những việc làm của mình bị khiển trách, nhưng ai hành động trong sự thật, thì đến cùng sự sáng, để hành động của họ được sáng tỏ, là họ đã hành động trong Thiên Chúa.”

Câu chuyện trong sách Công vụ cho thấy kinh nghiệm này của các Tông đồ:

-Các ngài rao giảng Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người cho dân chúng…

-Giới lãnh đạo cảnh cáo: Các anh không được giảng dạy như thế!

-Các Tông đồ vẫn giảng chứ không nao núng…

-Giới lãnh đạo dùng các biện pháp bạo lực, bách hại các ngài…

-Nhưng các ngài được Chúa can thiệp, giải cứu, để có thể tiếp tục rao giảng.

Chúng ta hãy vững tin, lời Thiên Chúa không thể bị xiềng xích, và khốn cho kẻ đưa chân đạp mũi nhọn!

Lm. Lê Công Đức


Phải Tái Sinh Bởi Trời! (14.04.2026 Thứ Ba Tuần II Phục Sinh)

“Các ngươi phải tái sinh bởi trời”. Khẳng định này của Chúa Giêsu làm cho Nicodemo ngơ ngác không hiểu… Chúa nói tiếp: “Nếu khi Tôi nói về những sự dưới đất mà các ông không tin, khi Tôi nói những sự trên trời, các ông tin thế nào được!”…

Suy nghĩ sát đất và suy nghĩ hướng thượng là hai trường ý nghĩa hoàn toàn khác biệt nhau. Minh hoạ ‘hot’ nhất là những lời của ông Tổng thống Mỹ chế giễu Đức giáo hoàng Lê ô XIV kia kìa! Và nói chung, sự căng thẳng này thời nào cũng thế… Bởi chính Giêsu đã bị chế giễu, đến mức đã bị treo lên đó! Nhưng chính Người xác nhận, “Con Người phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời”!

“Không bị tiêu diệt muôn đời” là bất khả diệt – điều chỉ ứng nghiệm với những ai ‘thuộc về trời’. Bởi vì cái gì thuộc về đất thì tạm bợ, tiêu vong…

Mô tả của sách Công vụ về cộng đoàn tín hữu đầu tiên là một mô tả đặc sắc về thế nào là được tái sinh bởi trời, thuộc về trời cao, cho dù người ta vẫn còn đi trên mặt đất. Hãy hình dung:

-Tất cả đoàn tín hữu đông đảo đều đồng tâm nhất trí.

-Chẳng ai kể của gì mình có là của riêng, song để mọi sự làm của chung.

-Hết thảy đều được mến chuộng. Vì thế, trong các tín hữu, không có ai phải túng thiếu…

Lãng mạn xã hội và lãng mạn kinh tế đến thế là cùng! Nhưng đừng quên, đó là mô tả tiêu biểu về các Kitô hữu thuở ban đầu ấy…

Mới đây, có ý kiến lấy một phường/xã ở Hà Nội làm thí điểm xã hội chủ nghĩa! Người ta cười ồ. Nhưng nghĩ cho cùng, bỏ qua những khía cạnh kỹ thuật và thực tiễn, thì ý tưởng ấy không tệ đâu.

Lm. Lê Công Đức


Giương Buồm Đón Ngọn Gió Thánh Thần (13.04.2026 Thứ Hai Tuần II Phục Sinh)

Tuần Bát nhật Phục sinh đã trôi qua. Nhưng Mùa Phục sinh vẫn còn đó, tiếp tục réo gọi, với tiêu điểm rõ ràng hướng đến việc đón nhận hoa trái của Phục sinh là quà tặng Thánh Thần – sẵn sàng cho sứ mạng làm chứng của cộng đoàn Hội Thánh!…

Bản văn sách Công vụ kể chuyện các Tông đồ bị sách nhiễu, bị bắt giam, rồi phóng thích… Nhưng chính trong tình hình gay go đó, thật lạ lùng là các Tông đồ lại đầy phấn khích trong bầu khí sục sôi sứ mạng. Các ngài vui tươi sẵn sàng đón nhận những thử thách khi làm chứng cho Chúa Giêsu Phục sinh, bởi các ngài đang được ‘thổi mạnh’ bởi Chúa Thánh Thần – như mô tả của sách Công vụ: “Khi họ cầu nguyện xong, thì nơi họ đang tập họp liền chuyển động, mọi người được tràn đầy Thánh Thần và tin tưởng rao giảng lời Thiên Chúa” (x. Cv 4,23-31).

Quả thực, trao ban Thánh Thần là tất cả dự án của biến cố Chúa Giêsu Kitô. Người đã hoạch định từ đầu việc trao ban này, như vén mở trong cuộc trò chuyện với Nicôđêmô về việc tái sinh nhờ nước và Thánh Thần. Và việc trao ban này được Người hoàn tất trong cái chết và sự sống lại của Người. Ơn ban Thánh Thần là mùa gặt của mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô!

“Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu: mọi kẻ sinh bởi Thần Linh cũng vậy”. Chúa Giêsu nói về Thánh Thần như gió thổi. Bàng bạc. Tràn ngập. Hoàn toàn tự do. Vừa êm dịu vừa mạnh mẽ…!

Sống mầu nhiệm Phục sinh, đó là chúng ta giương buồm đón ngọn gió này, để cho ngọn gió này cuốn mình đi vào sứ mạng loan báo Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại, và đang sống. Và chúng ta loan báo như vậy trong tư cách những người đã ‘sống lại’, đã được tái sinh…

Lm. Lê Công Đức


Đấng Phục Sinh Luôn Hiện Diện Trong Cuộc Sống (Suy Niệm Chúa Nhật II Phục Sinh)

Trong trang Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan dẫn chúng ta trở về khoảnh khắc linh thiêng khi Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với các tông đồ. Giữa bầu khí nặng nề của sợ hãi và hoang mang, Chúa đến, không một lời trách móc, chỉ nhẹ nhàng trao ban bình an. Cử chỉ ấy đã biến đổi các môn đệ: từ những con người run sợ, khép kín, trở nên những chứng nhân tràn đầy ánh sáng đức tin. Ngài cho các ông xem đôi tay và cạnh sườn còn mang dấu tích thương khó, với lời chúc lành“Bình an cho các con.”

1. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng ban bình an đích thực

Sau cái chết của Đức Giêsu, các môn đệ như rơi vào vực sâu của tuyệt vọng. “Cửa đóng then cài” không chỉ là cánh cửa của căn phòng, mà còn là cánh cửa của tâm hồn: khép kín, co cụm, đầy lo âu và sợ hãi. Họ sợ hãi đến mức quên đi tất cả những gì mình đã từng tin, từng chứng kiến. Chính trong hoàn cảnh ấy, Đấng Phục Sinh đã đến. Ngài đứng giữa họ, không ồn ào, không phô trương nhưng chỉ một lời nói nhẹ nhàng “Bình an cho anh em.” Một lời đủ để xoa dịu, đủ để chữa lành, đủ để làm sống lại niềm tin tưởng dường như đã tắt lịm.

Bình an của thế gian thường mong manh, dễ vỡ trước những biến cố bất ngờ. Đó là kinh nghiệm của các môn đệ đã từng thấy phép lạ, từng nghe lời giảng dạy của Chúa với đầy xác tín, nhưng vẫn nao núng khi đối diện với thập giá. Nỗi sợ đã làm lu mờ ký ức đức tin của họ. Phải chăng đó cũng là câu chuyện của mỗi chúng ta? Có những lúc chúng ta cảm nhận Chúa rất gần: trong những giờ cầu nguyện sốt sắng, trong bài giảng chạm đến tâm hồn, trong sự bình an sâu thẳm khi lắng nghe Lời Chúa. Nhưng rồi, khi khó khăn, thử thách ập đến, tất cả những cảm nghiệm ấy dường như tan biến.

Thế nhưng, bình an đích thực của Chúa Giêsu không phải là sự vắng bóng của đau khổ. Đó là sự hiện diện của Ngài ngay giữa những đau khổ ấy. Một sự bình an âm thầm, sâu thẳm, không ồn ào nhưng vững bền. Đó không phải là cảm giác dễ chịu nhất thời, nhưng là hoa trái của một đời sống gắn bó với Thiên Chúa. Bình an ấy đến từ việc sống theo thánh ý Thiên Chúa, và trung thành giữ Lời Chúa, dù có thể phải hy sinh, từ bỏ hay chịu thử thách. Nhưng nếu ta kiên trì bước đi trong ánh sáng Lời Chúa, bình an nội tâm sẽ dần trổ sinh trong tâm hồn.

2. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng khơi dậy nguồn sống mới

Không dừng lại ở lời chúc, Chúa Giêsu còn trao ban chính sự sống của Ngài. Ngài “thổi hơi” trên các môn đệ và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần.”

Hơi thở ấy không chỉ là một cử chỉ, mà là sự sống. Như thuở ban đầu của công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào Ađam, thì giờ đây, Đức Giêsu Phục Sinh cũng thổi hơi vào những con người đang như mất hết sức sống, để làm cho họ được hồi sinh. Từ những con người co cụm trong sợ hãi, các tông đồ trở nên can đảm, mạnh mẽ. Từ căn phòng đóng kín, họ bước ra thế giới. Từ những trái tim tan vỡ, họ trở thành những con người tràn đầy hy vọng. Một sự biến đổi lạ lùng nhưng lại rất thật, vì đó là công trình của Thánh Thần. Ngày ấy không chỉ là ngày thứ nhất trong tuần, mà còn là ngày đầu tiên của một nhân loại mới, nhân loại được sống trong ân sủng và tình yêu.

Ngày hôm nay, Chúa vẫn đang âm thầm “thổi hơi” vào cuộc đời chúng ta. Trong từng biến cố, từng hoàn cảnh, Ngài vẫn ở đó – trong gia đình, nơi học tập, nơi làm việc. Điều quan trọng là: ta có mở lòng ra để đón nhận hay không?

3. Đức Giêsu Phục Sinh – Đấng củng cố đức tin

Trước sự cứng lòng của Tôma, Chúa Giêsu không trách móc, nhưng kiên nhẫn chờ đợi. Và rồi, Ngài đến, dịu dàng mời gọi: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.”

Ngài cho ông xem đôi tay – đôi tay đã yêu thương, đã phục vụ, đã chạm đến những nỗi đau của con người. Đôi tay ấy không chỉ mang dấu đinh, mà còn mang dấu ấn của một tình yêu tự hiến.

Ngài cũng cho ông xem cạnh sườn – nơi trái tim bị đâm thâu, nơi tình yêu tuôn chảy đến giọt cuối cùng. Từ đó phát sinh sự sống và Thần Khí, tuôn tràn trên nhân loại.

Chính khi chạm vào những dấu tích ấy, Tôma đã thốt lên lời tuyên xưng đầy xúc động: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đó không chỉ là lời của riêng ông, mà còn là lời mà mỗi chúng ta được mời gọi thốt lên trong hành trình đức tin của mình.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, giữa những lo toan và thử thách của cuộc sống, chúng con nhiều khi thu mình lại trong sợ hãi, khép kín trong yếu đuối, và dần đánh mất niềm tin. Xin Chúa hãy đến, đứng giữa cuộc đời chúng con, và trao ban cho chúng con lời chúc lành:“Bình an cho con.” Xin thổi hơi Thánh Thần vào tâm hồn chúng con, để chúng con được hồi sinh, được mạnh mẽ bước ra khỏi những “căn phòng đóng kín” của chính mình. Xin ban thêm đức tin cho chúng con, để dù cuộc đời có bao sóng gió, chúng con vẫn một lòng tín thác, và can đảm phó dâng cuộc đời mình trong lòng thương xót vô biên của Chúa. Amen.

Maria Thảo An



Chúa Phục Sinh Là Trung Tâm Lịch Sử (09.04.2026 Thứ Năm Bát Nhật Phục Sinh)

Biến cố Chúa Giêsu Kitô, mà cao điểm là cái chết và sự sống lại của Người, có phải là một cái gì bất chợt xảy ra và chẳng cần liên quan gì đến câu chuyện dài trước đó? Không! Hoàn toàn không phải bỗng dưng đâu!

Chỉ có một câu chuyện duy nhất của Thiên Chúa, đó là lịch sử cứu độ. Và biến cố Chúa Giêsu được chuẩn bị bởi lịch sử này, đi vào lịch sử này, và cứu độ lịch sử này! Ta thấy Chúa Phục sinh đặc biệt lưu ý các môn đệ rằng “cần phải ứng nghiệm hết mọi lời đã ghi chép về Thầy trong luật Môsê, trong sách tiên tri và thánh vịnh”…

Và về cái chết Thập giá của Người, Đấng Phục sinh giải thích: “Có lời chép rằng: Ðấng Kitô sẽ phải chịu thương khó và ngày thứ ba Người sẽ từ cõi chết sống lại… Còn anh em, anh em sẽ làm chứng nhân về những điều ấy”…

Trong sách Công vụ, sau khi anh què được chữa lành, Phê rô đã phải giải thích nhiều cho mọi người. Và cả ở đây, sự giải thích của Phê rô khẳng định mạnh mẽ sự gắn kết và vai trò trọng tâm của Chúa Giêsu Phục sinh trong toàn cảnh lịch sử cứu độ. Hãy nghe Phê rô nói với thính giả Do thái:

“Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp, Thiên Chúa các tổ phụ chúng ta, đã làm vinh danh Chúa Giêsu, Con của Ngài, Ðấng mà anh em đã nộp và chối bỏ trước mặt Philatô trong khi Philatô xét là phải tha cho Người”… Rồi Phê rô tiếp tục:

“Thiên Chúa đã hoàn tất việc Ngài dùng miệng các tiên tri mà báo trước rằng Ðức Kitô của Ngài phải chịu khổ hình”… Phêrô hăng hái dẫn lại những lời sách thánh liên quan tới Abraham, Mô sê, Samuen, vv… để chỉ ra rằng cả một lịch sử đã chuẩn bị cho biến cố Chúa Giêsu Kitô, mà cao trào của biến cố này là cuộc Vượt qua từ đau khổ Thập giá đến Phục sinh vinh quang.

Như thế, câu chuyện Chúa Giêsu Kitô không muốn đánh đố và làm khó ai cả. Không đánh đố người Do thái, dĩ nhiên rồi – nhưng cũng không đánh đố các dân các nước khác! Vì chỉ cần một chút cố gắng nhập vai người Do thái và đọc câu chuyện của họ, thì có thể nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa cho cả nhân loại và lịch sử này, một nhân loại và lịch sử xoay quanh Chúa Giêsu và có Người là Đấng Cứu Độ duy nhất!

Đó là một phần rất quan trọng của lời rao giảng tiên khởi (kerygma) sau Phục sinh, còn hiệu lực mãi cho chúng ta!

Lm. Lê Công Đức


Đức Thánh Cha Hoan Nghênh Thỏa Thuận Ngừng Bắn Giữa Mỹ-Israel Và Iran

Vào cuối buổi Tiếp kiến chung sáng ngày 8/4/2026, Đức Thánh Cha Lêô XIV nói rằng ngài hài lòng và hoan nghênh thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ-Israel và Iran như dấu hiệu của niềm hy vọng tha thiết. Trước đó, tối ngày 7/4/2026, ngài đã kêu gọi trở lại bàn đàm phán để theo đuổi các giải pháp hòa bình, quan tâm đến những nạn nhân vô tội và khẳng định việc đe dọa toàn dân Iran là điều không thể chấp nhận.

Tổng thống Trump đã đe dọa rằng sẽ tiêu diệt “toàn bộ nền văn minh Iran” nếu Tehran không tuân thủ thời hạn do Nhà Trắng đặt ra để đạt được thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz. Trước thời hạn Mỹ đưa ra, 8 giờ tối giờ EDT ngày 7/4/2026, tức khoảng 7 giờ sáng ngày 8/4/2026 giờ Việt Nam, hai bên tham chiến đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong hai tuần. Theo thỏa thuận, các bên liên quan sẽ ngừng tấn công trong lúc đàm phán diễn ra.

“Chỉ thông qua việc quay trở lại đàm phán, chiến tranh mới có thể chấm dứt”

Trước khi chào các tín hữu nói tiếng Ý, Đức Thánh Cha nói: “Sau những giờ phút vô cùng căng thẳng này ở Trung Đông và trên toàn thế giới, tôi hoan nghênh với sự hài lòng và như một dấu hiệu của niềm hy vọng tha thiết về thông báo ngừng bắn hai tuần ngay lập tức. Chỉ thông qua việc quay trở lại đàm phán, chiến tranh mới có thể chấm dứt”.

Đức Thánh Cha mời gọi mọi người “hãy cầu nguyện trong thời điểm ngoại giao tế nhị này, với hy vọng rằng sự cởi mở đối thoại có thể trở thành công cụ để giải quyết các xung đột khác trên thế giới” và nhắc lại lời mời mọi người cùng tham gia Buổi Canh thức Cầu Nguyện vì Hòa Bình, sẽ được cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô vào thứ Bảy, ngày 11/4/2026.

Lời đe dọa hủy diệt toàn dân Iran “là điều thực sự không thể chấp nhận được!”

Tối ngày 7/4/2026, nói với các nhà báo chờ đợi ngài bên ngoài Villa Barberini ở Castel Gandolfo, trong bối cảnh lời đe dọa của Tổng thống Mỹ, Đức Thánh Cha cho biết ngài chỉ muốn nhắc lại một lần nữa điều ngài đã nói trong thông điệp Urbi et Orbi hôm Chúa Nhật, “kêu gọi tất cả những người thiện chí hãy luôn tìm kiếm hòa bình chứ không phải bạo lực, hãy bác bỏ chiến tranh – đặc biệt là một cuộc chiến mà nhiều người cho là bất công, đang tiếp tục leo thang và không giải quyết được vấn đề gì”.

Đức Thánh Cha nói rằng lời đe dọa hủy diệt toàn dân Iran “là điều thực sự không thể chấp nhận được. Chắc chắn có những vấn đề về luật pháp quốc tế ở đây, nhưng hơn thế nữa, đó là một vấn đề đạo đức liên quan đến lợi ích của toàn thể người dân”.

Ngài nêu bật những hậu quả sâu rộng của cuộc xung đột và nói rằng: “Chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, một cuộc khủng hoảng năng lượng, và một tình hình bất ổn lớn ở Trung Đông, điều này chỉ càng làm gia tăng thêm lòng thù hận trên toàn thế giới”. Do đó, ngài kêu gọi: “Hãy quay lại bàn đàm phán. Chúng ta hãy nói chuyện. Chúng ta hãy tìm kiếm các giải pháp một cách hòa bình”.

Nhớ đến những nạn nhân vô tội trong cuộc xung đột

Đức Thánh Cha nhắc nhở mọi người về những nạn nhân bị tổn hại một cách bất công trong cuộc xung đột, đặc biệt là những người vô tội như trẻ em, người già, người bệnh. Ngài khẳng định rằng các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dân sự là vi phạm luật pháp quốc tế, và đó cũng là dấu hiệu của lòng thù hận, sự chia rẽ và sự tàn phá mà con người có khả năng gây ra”.

Đức Thánh Cha kết thúc với lời kêu gọi: “Tôi kêu gọi công dân của tất cả các quốc gia liên quan hãy liên hệ với chính quyền – các nhà lãnh đạo chính trị, các nghị sĩ – để yêu cầu họ, để nói với họ, hãy nỗ lực vì hòa bình và bác bỏ chiến tranh và bạo lực. Xin chân thành cảm ơn”.

Nguồn: Vatican News